ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bối cảnh đất nƣớc đổi mới và phát triển, nền kinh tế Việt Nam cũng bƣớc vào thời kỳ hội nhập và phát triển với đặc trƣng đẩy mạnh công nghiệp hóa. Việc cho phép các thành phần kinh tế họat động trong khuôn khổ luật pháp đã đƣa đến là sự ra đời của hàng loạt các Công ty, xí nghiệp nhà nƣớc và tƣ nhân thu hút hàng triệu ngƣời lao động trên cả nƣớc. Đây là một tín hiệu đáng mừng đối với một nền kinh tế đang phát triển, nhƣng đồng thời cũng đặt ra cho chúng ta các quan ngại về vấn đề an toàn lao động - Phòng chống tai nạn thƣơng tích cho ngƣời lao động khi năng lực của hệ thống quản lý còn chƣa theo kịp. Theo ƣớc tính của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), hàng năm trên thế giới có khoảng 337 triệu vụ TNLĐ và khoảng 2,3 triệu ngƣời chết, bình quân mỗi ngày có khoảng gần 6.300 ngƣời lao động chết do TNLĐ [27].
Tai nạn lao động là nguyên nhân đứng thứ 3 gây chấn thƣơng ở Việt Nam sau tai nạn giao thông và đuối nƣớc[14]. Hàng năm chỉ với khoảng dƣới 10% số cơ sở sản xuất gửi báo cáo về tình hình tai nạn[4]. Số vụ tai nạn lao động mỗi năm đã là hàng nghìn, làm chết hàng trăm ngƣời, làm bị thƣơng hàng nghìn ngƣời, trong đó không ít ngƣời đã trở thành tàn phế vĩnh viễn và đặc biệt con số này gia tăng khá nhanh trong những năm gần đây. Theo thống kê của Cục An toàn Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội thì tại nƣớc ta tình hình mắc/chết do TNLĐ có xu hƣớng tăng trong các năm gần đây.
Trong giai đoạn từ năm 2005 -2010 mỗi năm xảy khoảng từ 4. Tai nạn lao động đã và đang gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và cộng đồng cả về tính mạng, số năm sống có chất lƣợng bị giảm do tàn tật, đồng thời cũng gây thiệt hại kinh tế, tinh thần cho gia đình, cộng đồng và xã hội. Ở Lào Cai, theo báo cáo chƣa đầy đủ của các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị cơ sở chỉ trong 2 năm 2008, 2009 đã xảy ra 77 vụ TNLĐ làm 80 ngƣời bị nạn, trong đó có 12 vụ TNLĐ chết ngƣời làm 13 ngƣời chết. Mặc dù số ngƣời chết do TNLĐ năm 2009 đã giảm 50% so với năm 2008, nhƣng về số vụ nặng và nhẹ lại tăng 65% so với năm 2008[19].
2 Phân tích tình hình TNLĐ theo nguyên nhân chết ngƣời trong 2 năm 2008, 2009 ở Lào Cai cho thấy: Nguyên nhân để xảy ra TNLĐ chủ yếu là: (i)Từ phía chủ sử dụng lao động chủ yếu là vi phạm các quy định về biện pháp tổ chức lao động, chƣa huấn luyện ATLĐ cho ngƣời lao động (NLĐ), không có quy trình, biện pháp an toàn; (ii)Lỗi từ phía NLĐ chủ yếu là vi phạm quy phạm, quy trình, biện pháp làm việc an toàn, không sử dụng trang bị phƣơng tiện bảo vệ cá nhân đƣợc trang cấp[19]. Trong nhiều năm qua trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực An toàn sức khỏe ngƣời lao động[30], [28], [32]. Nghiên cứu của AlpErgor và Yucel Demiral về tai nạn lao động trong các nƣớc phát triển năm 2003 cho thấy tỷ lệ tử vong do tai nại lao động trong khai thác cao gấp 2,5 lần so với ngành sản xuất công nghiệp[24]. Tại Việt Nam các nghiên cứu chủ yếu tập chung vào tìm hiểu thực trạng TNLĐ và một số yếu tố liên quan[1], [8], [18].
Tuy nhiên nghiên cứu tìm hiểu Kiến thức, thái độ, thực hành về ATLĐ còn hạn chế đặc biệt là trong khai thác chế biến đồng. Trong điều kiện việc khai thác khoáng sản diễn ra ở tỉnh Lào Cai và nhiều địa phƣơng chƣa đƣợc kiểm soát tốt, nhiều khả năng các số liệu thống kê chính thức thấp hơn thực tế. Đồng thời, việc điều tra, đánh giá và giám sát ATLĐ của các cơ sở này cũng chƣa đƣợc thiết lập, duy trì với cơ sở khoa học nên thực trạng tuân thủ an toàn lao động của các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực này chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ. Trong phạm vi nghiên cứu này.
Câu hỏi nghiên cứu chính đặt ra là tỷ lệ ngƣời lao động tại Công ty mỏ tuyển đồng Sin Quyền - Lào Cai tuân thủ các biện pháp an toàn trong lao động là bao nhiêu? Những yếu tố nào liên quan tới việc tuân thủ các biện pháp an toàn trong lao động của công nhân để từ đó xây dựng các can thiệp hiệu quả? Để trả lời những câu hỏi này tôi tiến hành nghiên cứu “Mô tả sự tuân thủ các biện pháp an toàn trong lao động của công nhân và một số yếu tố liên quan tại Công ty mỏ tuyển đồng Sin Quyền - Lào Cai, năm 2011” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự tuân thủ các biện pháp an toàn trong lao động của công nhân Công ty mỏ tuyển đồng Sin Quyền – Lào Cai, năm 2011. Mô tả một số yếu tố liên quan đến mức độ tuân thủ các biện pháp an toàn trong lao động của công nhân Công ty mỏ tuyển đồng Sin Quyền - Lào Cai, năm 2011. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Chính sách nhà nƣớc Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động Các văn bản pháp quy hiện hành về ATLĐ là căn cứ pháp lý để ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động tuân theo nhằm bảo vệ sức khoẻ con ngƣời, phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, góp phần phát triển sản xuất và tăng năng xuất lao động Hệ thống luật pháp về bảo hộ lao động của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc hình thành ngay từ khi thành lập nƣớc (năm 1945) và đƣợc thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật (từ Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh do Quốc hội, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội ban hành đến nghị định, quyết định, thông tƣ của chính phủ và các thông tƣ, quyết định của Bộ, liên Bộ chức năng của Chính phủ hƣớng dẫn chi tiết việc thi hành). Hiến pháp nhà nƣớc Cộng hòa Xã hôi chủ nghĩa Việt Nam (1992), điều 56 quy định: “Nhà nƣớc ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nƣớc quy định thời gian lao động, chế độ tiền lƣơng, chế độ nghỉ hƣu và chế độ bảo hiểm đối với viên chức Nhà nƣớc và những ngƣời làm công ăn lƣơng, khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với ngƣời lao động”[17]. Bộ Luật lao động (sửa đổi bổ sung năm 2007), điều 95 (chƣơng IX) quy định “Ngƣời sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phƣơng tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho ngƣời lao động.
Ngƣời lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp. Mọi tổ chức cá nhân có liên quan đến lao động sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trƣờng”[3]. Điều 99 Bộ Luật lao động cũng quy định: “Ngƣời lao động có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe doạ nghiêm trọng đến tính mạng hoặc sức khoẻ của mình và phải báo ngay với ngƣời phụ trách trực tiếp. Ngƣời sử dụng lao động không đƣợc buộc ngƣời lao 5 động tiếp tục làm công việc đó hoặc trở lại nơi làm việc đó nếu nguy cơ chƣa đƣợc khắc phục”.
Điều 101 quy định: “Ngƣời lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại phải đƣợc cấp đầy đủ phƣơng tiện bảo vệ cá nhân. Ngƣời sử dụng lao động phải bảo đảm các phƣơng tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lƣợng và quy cách theo quy định của pháp luật”. Điều 102 quy định: “Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động, ngƣời sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hƣớng dẫn, thông báo cho ngƣời lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng ngƣời lao động, ngƣời lao động phải đƣợc khám sức khoẻ khi tuyển dụng và đƣợc khám sức khoẻ định kỳ theo chế độ quy định. Chi phí khám sức khoẻ cho ngƣời lao động do ngƣời sử dụng lao động chịu”.
Điều 105 quy định: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong, xẩy ra trong quá trình lao động, gắn liền với thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Ngƣời bị tai nạn lao động phải đƣợc cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo. Ngƣời sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về việc để xẩy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật”. Điều 108 quy định: “Tất cả các vụ tai nạn lao động, các trƣờng hợp bị bênh nghề nghiệp đều phải đƣợc khai báo, điều tra, lập biên bản thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hành vi che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”. Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 của chính phủ qui định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, chƣơng 2 quy định 1 số điều về an toàn lao động, vệ sinh lao động [10]. Điều 3 quy định: “Việc thực hiện tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động theo khoản 2 điều 96 của Bộ luật lao động đƣợc quy định nhƣ sau: Tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động là tiêu chuẩn, quy phạm bắt buộc thực hiện. Căn cứ tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động của 6 nhà nƣớc, của ban ngành, ngƣời sử dụng lao động phải xây dựng quy trình bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho từng máy, thiết bị, vật tƣ và nội quy an toàn, vệ sinh nơi làm việc” [10].
Điều 6 quy định: “Ngƣời lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại phải đƣợc trang cấp đầy đủ phƣơng tiện bảo vệ cá nhân đúng quy cách và chất lƣợng theo tiêu chuẩn danh mục do Bộ lao động – Thƣơng binh và Xã hôi quy định” [10].