phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan Chƣơng này tập trung xác lập cơ sở lý thuyết cho đề tài, trƣớc tiên là những vấn đề của lý thuyết ẩn dụ ý niệm mà trọng tâm là bản chất ý niệm của ẩn dụ, phân biệt ẩn dụ theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận với ẩn dụ theo những quan niệm trƣớc đó, đồng thời đƣa ra cách phân loại ẩn dụ ý niệm, sự phân biệt ẩn dụ thƣờng quy và ẩn dụ thơ ca mà luận văn sẽ áp dụng để triển khai ở những chƣơng kế tiếp. Bên cạnh đó, một số thuật ngữ của ngôn ngữ học tri nhận có liên hệ mật thiết đến vấn đề nghiên cứu nhƣ ý niệm - sự ý niệm hóa, phạm trù - sự phạm trù hóa, điển dạng, nghiệm thân cũng đƣợc đề cập phục vụ cho việc chứng minh, biện giải trong luận văn. Nội dung cuối cùng đƣợc khái quát là mối quan hệ giữa ẩn dụ ý niệm và văn hóa đƣợc nhìn nhận từ 2 góc độ: tính phổ quát và tính đa dạng văn hóa trong ẩn dụ ý niệm. Chƣơng 2: Các kiểu loại ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt Nội dung chính của chƣơng này là phân loại và luận bàn các kiểu loại ẩn dụ về phụ nữ.
Trƣớc tiên là phân loại ẩn dụ thành 3 nhóm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hƣớng, căn cứ vào lý thuyết về sự phân loại đã đƣợc trình bày ở chƣơng trƣớc. Sau đó, lần lƣợt triển khai chi tiết nội dung của từng ẩn dụ trong sự đối chiếu với kết quả khảo sát, đồng thời liên hệ với các ẩn dụ về phụ nữ trong một số ngôn ngữ khác để phác họa bức tranh tinh thần của ngƣời Việt liên quan đến ý niệm này. 14 Chƣơng 3: Đặc điểm và cơ sở ý niệm hóa của ẩn dụ ý niệm về phụ nữ trong tiếng Việt Nội dung chƣơng này gồm 2 phần. Thứ nhất, xác định và triển khai đặc điểm nổi bật của ẩn dụ về phụ nữ trong tiếng Việt thành 3 nội dung: tính đa dạng văn hóa, tính ổn định trong tƣ duy, tính sáng tạo trong thơ ca.
Cơ sở để thiết lập các đặc điểm này là sự xem xét ẩn dụ ý về phụ nữ lần lƣợt trong mối quan hệ với 3 yếu tố: bối cảnh văn hóa, hoạt động tƣ duy và hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Nội dung thứ hai là xác lập cơ sở ý niệm hóa cho ẩn dụ, gồm: cơ sở ý niệm hóa dựa vào thể xác, cơ sở ý niệm hóa dựa vào tri thức, cơ sở ý niệm hóa dựa vào kinh nghiệm (văn hóa, xã hội). 15 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Những vấn đề lý thuyết về ẩn dụ Quan niệm về ẩn dụ từ thời đại của Aristotle cho đến thế kỉ XX đã có nhiều chuyển biến đáng kể.
Ngôn ngữ học truyền thống xác định ẩn dụ là một biện pháp tu từ hoặc một phƣơng thức phát triển nghĩa của từ, quan niệm này lần lƣợt đƣợc trình bày trong các nghiên cứu của Aristotle, M. Những công trình kế tiếp của I. vào đầu thế kỉ XX chứng tỏ cái nhìn về bản chất của ẩn dụ đã có sự thay đổi đáng kể từ quan hệ so sánh sang quan hệ tƣơng tác. Lý luận này đã trở thành tiền đề cho sự ra đời của lý thuyết ẩn dụ ý niệm trong khuôn khổ lý luận ngôn ngữ học tri nhận cuối thế kỉ XX do G.
Johnson đề xƣớng và tiếp tục đƣợc triển khai bởi nhiều tên tuổi nhƣ M. Ẩn dụ theo quan niệm tiền tri nhận 1. Thuyết so sánh của Aristotle Tại phƣơng Tây, Aristotle (384 - 322 TCN) đƣợc xem là ngƣời luận bàn về ẩn dụ sớm nhất. Nhìn nhận về ẩn dụ dƣới góc độ là một hiện tƣợng ngôn ngữ, ông cho rằng ẩn dụ là “cấp cho sự vật một tên gọi thuộc về sự vật khác, sự chuyển đổi này đi từ loại (species) sang giống (genus), hay từ giống sang loại, hay từ loại sang loại, trên cơ sở phép loại suy” [71, p.
Định nghĩa này xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi sự vật, hiện tƣợng trong quá trình tƣơng tác với con ngƣời đều đƣợc gán cho những tên gọi. Ẩn dụ đƣợc xây dựng trên cơ sở vi phạm nguyên tắc này, là sự chuyển đổi tên gọi từ thực thể này sang thực thể khác căn cứ vào những nét tƣơng đồng giữa chúng. Ẩn dụ còn đƣợc hiểu là sự so sánh ngầm, “phân biệt với tỷ dụ (simile) ở chỗ nó không được đánh dấu bởi các từ so sánh „như‟ (like), „giống như‟ (as)” [74, p. Có thể thấy ẩn dụ là một thuộc 16 tính của ngôn từ, một hiện tƣợng ngôn ngữ, đƣợc xác lập dựa trên sự tƣơng đồng giữa hai thực thể có liên hệ với nhau.
Cũng trong Poetics (Nghệ thuật thơ ca), Aristotle cho rằng ẩn dụ không phải là từ thông dụng, mà là từ khác thường, là những gì tách khỏi cách nói thông thƣờng. Ẩn dụ đƣợc hình dung nhƣ một kiểu loại trang sức phục vụ cho mục đích tu từ, là tín hiệu thẩm mỹ trong nghệ thuật thơ ca và hùng biện. Bên cạnh việc đề cao tác dụng của ẩn dụ, ông cũng khẳng định rằng chỉ những thiên tài hay những ngƣời thực sự khéo léo mới có thể sáng tạo ra ẩn dụ. Bởi ẩn dụ là thứ không thể bắt chước được từ người khác, là dấu hiệu của tài năng đặc biệt và sự tinh thông tuyệt đối về ngôn ngữ.
Với cách tiếp cận truyền thống thì ẩn dụ là một công cụ đƣợc hạn định trong phạm vi thơ ca và thuật hùng biện, là một biện pháp tu từ hỗ trợ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật và định hình phong cách tác giả. Quan niệm này không chỉ đƣợc chấp nhận trong giới học thuật mà còn đƣợc chia sẻ rộng rãi trong nhận thức phổ thông. Điều đó có nghĩa rằng, hơn hai ngàn năm qua, nhận thức của chúng ta về ẩn dụ cơ bản là không có sự thay đổi. Ẩn dụ vẫn đƣợc xem là một cơ chế chuyển đổi và thay thế các từ ngữ dựa trên những đặc điểm tƣơng đồng của chúng.
Thuyết tƣơng tác của I. Black Đến đầu thế kỉ XX, quan niệm về ẩn dụ dần có sự thay đổi nhằm phản biện lại hệ thống lý thuyết về ẩn dụ trƣớc đó. Sự thay đổi này tập trung ở hai điểm; thứ nhất, ẩn dụ không phải là đặc trƣng chỉ riêng ngôn ngữ thơ ca, hùng biện mới có mà còn xuất hiện phổ biến trong ngôn ngữ thƣờng ngày; thứ hai, ẩn dụ không phải là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai thực thể mà là sự tƣơng tác. Quan niệm ẩn dụ là một hiện tƣợng phổ biến trong ngôn ngữ thƣờng ngày đã đƣợc I.Richards phân tích trong tiểu luận The Philosophy of Rhetoric (1936).
Ông xem ẩn dụ là “một nguyên tắc của ngôn ngữ có mặt ở khắp nơi và không phải là vật trang trí hay thuyết phục” [101, p. Trong tiểu luận này, 17 tác giả còn đề cập đến hai thuật ngữ là đối tượng (tenor) và phương tiện (vehicle); trong đó, đối tượng đƣợc hiểu là ý tưởng chính (original idea), phương tiện đƣợc hiểu là ý tưởng vay mượn (borrowed idea). Giữa chúng diễn ra quá trình tƣơng tác để tạo tập ý nghĩa. Với cách hiểu này, ẩn dụ là sự biểu thị một tƣ tƣởng, thực sự là một thuộc tính của tƣ duy thay vì chỉ là một hiện tƣợng ngôn từ.
Quan niệm bản chất của ẩn dụ là sự tƣơng tác đƣợc trình bày cụ thể trong Lý thuyết tương tác (Interaction theory) của M. Toàn bộ quan điểm của ông đƣợc tóm lƣợc thành 7 nhận định nhƣ sau: Một biểu thức ngôn ngữ mang ẩn dụ có hai chủ thể khác biệt nhau: một chủ thể chính (principal) và một chủ thể phụ (subsidinary). Những chủ thể này tốt nhất nên được xem là “những hệ thống (systems of things) thay vì “những đối tượng” (things). Các phát ngôn ẩn dụ được tạo ra bằng việc phóng chiếu lên chủ thể chính hệ thống những “hàm chỉ liên quan”(associated implications) của chủ thể phụ.
Những hàm chỉ này chính là những liên tưởng đã được thừa nhận trong ý thức của người nói, có liên hệ với chủ thể phụ, trong những trường hợp, có thể bao gồm những hàm chỉ không chuẩn (deviant implications) được khám phá bởi người sáng tác. Ẩn dụ chọn lọc, nhấn mạnh, loại trừ và tổ chức đặc trưng của chủ thể chính bằng cách hàm chỉ những phán đoán về chủ thể chính có thể được áp dụng cho chủ thể phụ. Điều này dẫn đến việc thay đổi nghĩa của những từ thuộc cùng một nhóm hay cùng hệ thống như những biểu thức ẩn dụ; một số thay đổi đó, có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphorical transfer). 18 Nhìn chung, không có sự bắt buộc nào đối với sự thay đổi nghĩa, cũng không có quy tắc nào giải thích một số ẩn dụ có thể thay đổi nghĩa, một số khác thì không [73, p.
Tóm lại, những đóng góp của I. Black có ý nghĩa tích cực đối với công tác nghiên cứu ẩn dụ. Tác giả đã cho thấy bản chất của ẩn dụ là phát sinh từ tƣ tƣởng. Điều này một lần nữa nhấn mạnh: ẩn dụ là một quá trình tƣơng tác và chuyển di ngữ nghĩa giữa hai thực thể có liên quan.
Lý luận này đã “nâng cấp” ẩn dụ từ cấp độ ngôn ngữ lên cấp độ tƣ duy, đồng thời mở đƣờng cho sự nghiên cứu ẩn dụ dƣới góc độ ngôn ngữ học tri nhận sau này. Ẩn dụ theo quan niệm tri nhận 1. Bản chất của ẩn dụ ý niệm G. Johnson (1980) đã bác bỏ quan điểm truyền thống về ẩn dụ bằng việc đƣa ra một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về nó: “Ẩn dụ ý niệm phổ biến trong ngôn ngữ hằng ngày, chúng không phải tồn tại trong ngôn ngữ mà tồn tại ngay trong suy nghĩ và hành động của chúng ta” [93, p.
Theo đó, ẩn dụ không còn là một hiện tƣợng ngôn ngữ, một thuộc tính của ngôn từ mà là “một quá trình tất yếu diễn ra trong hoạt động tư duy của con người” [86, p. Lee (2001) cũng nhận định tƣơng tự: “[…] ẩn dụ là những cấu trúc vĩ mô ảnh hưởng đến cách tư duy của chúng ta về toàn bộ các lĩnh vực trải nghiệm của con người” [94, p. Nói cách khác, tƣ duy của con ngƣời về cơ bản là mang tính ẩn dụ. Về bản chất, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là “sự nhận hiểu một miền ý niệm trong tri thức của một miền ý niệm khác” [86, p.