Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số: 62.01) của tác giả Nguyễn Đình Lâm, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2013) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Mạnh Cường, nghiên cứu đề tài "Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội".

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử hai thiên niên kỷ đã hội nhập sâu rộng vào đời sống văn hóa xã hội bản địa, mang đậm tính vùng miền và tông phái. Âm nhạc Phật giáo sinh ra từ trong nghi lễ, vừa mang đặc điểm chung của âm nhạc truyền thống, vừa là âm nhạc chức năng gắn liền với triết lý và thực hành tu tập. Khu vực Thăng Long - Hà Nội với vị thế trung tâm văn hóa của châu thổ Bắc bộ bảo lưu nhiều yếu tố âm nhạc Phật giáo mang sắc thái riêng biệt nhưng trước thời điểm luận án thực hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện dưới góc độ tôn giáo học.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ nguồn gốc, diện mạo, chức năng của âm nhạc và mối quan hệ giữa âm nhạc với nghi lễ Phật giáo; chỉ ra các đặc trưng cơ bản và các lớp văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng trong âm nhạc nghi lễ Phật giáo tại Hà Nội nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành tôn giáo học và âm nhạc dân tộc cổ truyền.
  • Câu hỏi nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
    1. Âm nhạc xuất hiện trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội từ khi nào?
    2. Âm nhạc có chức năng và ý nghĩa như thế nào trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội?
    3. Âm nhạc Phật giáo ở Hà Nội có những đặc trưng cơ bản nào khác biệt và tương đồng so với một số thể loại âm nhạc phổ biến ở vùng châu thổ Bắc bộ và âm nhạc Phật giáo ở một địa phương cụ thể cùng khu vực?
  • Giả thuyết khoa học:
    • Âm nhạc đã hiện diện trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam và Hà Nội hàng nghìn năm qua, mang ý nghĩa trên cả bình diện tôn giáo và nghệ thuật.
    • Âm nhạc Phật giáo là phương tiện trong tương quan Giới - Định - Tuệ phục vụ truyền đạo và giác ngộ chúng sinh.
    • Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội mang tính nhiều tầng, nhiều lớp, có cấu trúc và đặc trưng riêng so với âm nhạc dân gian Bắc bộ và âm nhạc Phật giáo ở các tiểu vùng khác.
    • Âm nhạc Phật giáo Hà Nội là một bộ phận hữu cơ cấu thành nền âm nhạc truyền thống dân tộc.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nguồn gốc, sự hình thành, diện mạo, chức năng của âm nhạc; mối quan hệ giữa âm nhạc và nghi lễ Phật giáo tại Hà Nội; các đặc trưng âm nhạc học cơ bản và các tầng lớp văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng tích hợp trong nghi lễ.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Tập trung khảo sát phong cách âm nhạc Phật giáo Hà Nội tại các ngôi chùa thuộc địa bàn Hà Nội cũ (trước thời điểm mở rộng địa giới hành chính năm 2008) và một số chùa phụ cận có cùng thực hành phong cách này. Không gian nghi lễ tập trung vào hai dạng thức tiêu biểu: lễ Thường nhật và lễ Trai đàn chẩn tế.
    • Nội dung: Tiếp cận chủ yếu dưới góc độ tôn giáo học; nội dung âm nhạc học chỉ khảo sát ở các khía cạnh cơ bản gồm quan hệ ca từ - giai điệu, tổ chức và chức năng nhạc khí, vai trò của nhịp trống trong thế so sánh đối chiếu với âm nhạc truyền thống châu thổ Bắc bộ, âm nhạc Phật giáo Thái Bình và bước đầu đối sánh với Thừa Thiên Huế.
    • Thể loại: Giới hạn ở âm nhạc thực hành thuần túy trong nghi lễ Phật giáo với mục đích cúng dàng chư Phật, Bồ Tát và hóa giải chúng sinh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và đánh giá hệ thống tư liệu nghiên cứu tiền bối qua hai hướng tiếp cận chính:

Hướng tiếp cận dưới góc độ âm nhạc học

  • Nghiên cứu tổng quan và liên vùng: Trần Văn Khê (Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Du ngoạn trong Âm nhạc truyền thống Việt Nam, 2004) và Nguyễn Thuyết Phong (Bản sắc Lễ nhạc Phật giáo Việt Nam, 2010) khảo sát vị trí của nhạc Phật giáo trong âm nhạc dân tộc, xác định bốn hình thức diễn xướng cơ bản gồm Tán, Tụng, Niệm, Thỉnh và chỉ ra các thể loại mang tính vùng miền ở miền Trung và miền Nam (Hương Huê thỉnh, Dương chi, Tịnh Thủy, Nguyên tiêu, Nguyện sanh).
  • Khu vực miền Trung (xứ Huế): Nguyễn Hữu Thông (chủ biên, Nhạc lễ Phật giáo xứ Huế, 2008) và Phạm Hồng Lĩnh (Góp phần tìm hiểu Lễ nhạc Phật giáo xứ Huế, 2009) mô tả hệ thống bài bản, thang âm, nhạc cụ và mối liên hệ giữa nhạc Phật giáo với âm nhạc dân gian xứ Huế.
  • Khu vực Bắc bộ và Hà Nội: Nguyễn Thụy Loan (Lược sử âm nhạc Việt Nam, 1993; Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, 2006) xây dựng lý thuyết về tính nhiều tầng nhiều lớp của âm nhạc truyền thống; Lê Toàn (2008) nghiên cứu âm nhạc lễ cầu siêu tại Bắc Ninh; Bùi Trọng Hiền (Nhạc Phật giáo, 2010) khảo sát thể loại, cấu trúc bài bản và khái niệm "Đận" trong nhạc Phật giáo Hà Nội; Nguyễn Đình Lâm (các bài báo khoa học từ 2008-2012) khảo sát các thể loại thanh nhạc (Canh, Kệ, Kinh, Than, Thỉnh), hệ thống 13 điệu Canh và các "lò Canh" truyền thống tại Hà Nội.

Hướng tiếp cận dưới góc nhìn sử học, triết học và Phật giáo

  • Lê Mạnh Thát (Lịch sử âm nhạc Việt Nam, 2001; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, 2005; Tổng tập văn học Việt Nam, 1996) xác lập mốc thời gian xuất hiện của âm nhạc Phật giáo tại Giao Chỉ từ đầu Công nguyên, chỉ ra các thuật ngữ "Ca - Tán - Tụng - Vịnh" và "gảy đàn đốt hương".
  • Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, 1994) làm rõ tính chất nhập thế của Phật giáo thời Trần gắn liền với sự nghiệp của Thiền sư Trần Nhân Tông và Huyền Quang qua việc Việt hóa bộ Thủy Lục chư khoa thành các nghi thức Phật giáo Pháp sự Đạo tràng Công Văn Cách Thức, Lục thì Sám hối Khoa nghi, Bình đẳng Lễ Sám Văn.
  • Nguyễn Hùng Hậu (Đại cương Triết học Việt Nam, 2000) và Thích Giác Duyên (khảo cứu nguồn gốc Chuông - Trống - Mõ) cung cấp các tư liệu lịch sử về cơ cấu tổ chức và pháp khí trong chùa.
+--------------------------------------------------------------------------------+
|                        KHOẢNG TRỐNG KHOA HỌC LUẬN ÁN GIẢI QUYẾT                |
+--------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Các nghiên cứu âm nhạc học trước đây thiếu sự phân tích sâu sắc về chức     |
|    năng tôn giáo, mối quan hệ giữa âm nhạc với nghi lễ và sự chi phối của      |
|    tập quán tu tập đối với cấu trúc âm thanh.                                  |
| 2. Các nghiên cứu lịch sử, triết học chỉ ghi nhận sự kiện văn bản mà chưa      |
|    phân tích thực chứng diện mạo âm nhạc học và thực hành nghi lễ đương đại.   |
| 3. Chưa có công trình nào khảo sát toàn diện hệ thống bài bản, lò truyền dạy,   |
|    nhạc khí và cấu trúc nghi lễ Thường nhật và Trai đàn chẩn tế tại Hà Nội.    |
+--------------------------------------------------------------------------------+

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tích hợp các khung lý thuyết chuyên ngành và liên ngành:

  1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng: Đặt âm nhạc Phật giáo trong tiến trình vận động lịch sử xã hội, coi sự biến đổi của âm nhạc nghi lễ là phản ánh tồn tại xã hội và điều kiện lịch sử của dân tộc.
  2. Lý thuyết chức năng (Functionalism): Kế thừa luận điểm của Karl Marx, Herbert Spencer, Talcott Parsons và đặc biệt là Emile Durkheim (Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo), luận án nhìn nhận âm nhạc là một tiểu hệ thống thực hiện chức năng duy trì cấu trúc nghi lễ, truyền tải giáo lý và gắn kết cộng đồng.
  3. Lý thuyết vùng văn hóa: Vận dụng quan điểm của Ngô Đức Thịnh (Vùng Văn hóa và Phân vùng Văn hóa ở Việt Nam, 2004) để xác định tính quy định của địa lý, thổ nhưỡng, phương ngữ và lối sống lên âm nhạc Phật giáo Hà Nội trong mối tương quan với các tiểu vùng Bắc bộ.
  4. Lý thuyết về tính nhiều tầng, nhiều lớp trong âm nhạc cổ truyền: Ứng dụng quan điểm của Nguyễn Thụy Loan để bóc tách các lớp văn hóa bản địa, Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đan xen trong âm nhạc nghi lễ.
  5. Lý thuyết âm nhạc học phương Tây: Sử dụng hệ thống ghi âm năm dòng kẻ để mã hóa cao độ, trường độ, tiết tấu và phân loại hệ thống nhạc khí.

Hệ thống khái niệm, thuật ngữ then chốt

Luận án chuẩn hóa nội hàm của các thuật ngữ chuyên môn được sử dụng trong văn bản:

Thuật ngữ Định nghĩa và nội hàm khoa học theo luận án
Âm nhạc Phật giáo Loại hình nghệ thuật âm thanh sinh ra và sử dụng trong nghi lễ Phật giáo, mang tính "thiêng", sử dụng âm thanh dân gian để chuyên chở giáo lý và triết lý Phật giáo, phục vụ hành vi tôn giáo.
Canh Thể loại thanh nhạc phát triển từ Tán trong âm nhạc Phật giáo Bắc bộ, gồm hai sắc thái tính chất là vui (Canh lạc) và buồn (Canh ai), phân chia theo nhiều làn điệu và gắn liền với các "lò Canh" truyền thống.
Kệ Thể văn vần Phật giáo (thường là thể 5 chữ hoặc 7 chữ), đúc kết triết lý, có giai điệu âm nhạc độc lập tương đối, giữ vai trò tương tự phần "Vỉa" trong Chèo hoặc "Bỉ" trong Ca trù, Quan họ.
Kinh / Tụng Thể loại văn học ghi chép lời Phật dạy; trong âm nhạc là hình thức diễn xướng thanh nhạc theo thể văn xuôi trường hàng, bắt buộc trong các khoa cúng.
Lý - Sự Cặp phạm trù triết học Phật giáo: "Lý" là bản chất cốt lõi của giáo pháp; "Sự" là hiện tượng, phương tiện biểu hiện bên ngoài (âm thanh, nghi thức) để đưa "Lý" vào tâm thức tín đồ.
Trai đàn chẩn tế Đại lễ nghi thức bắt nguồn từ kinh Vu Lan bồn, kết hợp giáo lý Đại thừa và nghi thức Mật tông nhằm cầu siêu độ, giải thoát cho ngạ quỷ, cô hồn và thức tỉnh đạo đức người sống.
Thường nhật Hệ thống nghi lễ diễn ra đều đặn mỗi ngày ba thời (sáng, trưa, chiều) nhằm duy trì giới luật tu tập của tăng ni và thực hiện giáo hóa chúng sinh (thí thực, thỉnh đại hồng chung).
Pháp khí Các công cụ phục vụ hành trì Phật pháp, trong luận án chủ yếu chỉ hệ thống nhạc khí nghi lễ: Chuông (Hồng chung, Chuông gia trì), Trống, Mõ, Khánh, Thanh la, Não bạt...

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Nguồn tư liệu:
    • Kinh điển Phật giáo: Giới luật Thiết yếu hội tập (quyển 5), Kinh Phạm Võng (phẩm Bồ Tát Tâm Địa và Hội Giải giới bổn Bồ Tát), Kinh Dược Sư, Kinh Vu Lan, Kinh A Di Đà, Kinh Cứu Khổ, Kinh Bổn Môn Pháp Hoa, Kinh Địa Tạng, Vãng sinh Tịnh độ, Lương Hoàng Sám, Kinh Báo Ân.
    • Quốc sử và thư tịch cổ: An Nam Chí Lược (Lê Tắc), Thiền Uyển Tập Anh, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú).
    • Khảo cổ học và mỹ thuật học: Văn bia chùa Đọi (Hà Nam); bệ đá chạm nhạc công chùa Vạn Phúc/Phật Tích (thế kỷ 11-12, Bắc Ninh); hình chạm khắc gỗ người tấu nhạc (đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn tranh, sáo, tiêu, nhị) và vũ điệu dâng hoa thế kỷ 13-14 tại chùa Thái Lạc (Hưng Yên), chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Cồn Chè (Nam Định); tượng Kim Cương Bồ Tát cầm đàn tam, nhị tại chùa Nôm (Hưng Yên); tượng Chuẩn Đề Bồ Tát cầm chuông/linh tại chùa Đào Xuyên, chùa Kiêu Kỵ (Gia Lâm, Hà Nội); tượng Tứ Thiên Vương cầm đàn tại chùa Linh Đàm (Hoàng Mai, Hà Nội).
    • Tư liệu thứ cấp của học giả phương Tây: Ghi chép của William Dampier (1688), Léopold Cadière (1917, 1997), Pierre Huard và Maurice Durand (1993), Giovanni Filippo De Marini (1641-1658), Luc Benoist (2006), Mario Sica (2013).
    • Tư liệu điền dã: Băng ghi âm, ghi hình thực địa các đàn lễ và tài liệu phỏng vấn sâu các chức sắc, tăng ni, cư sĩ tại Hà Nội (chùa Đào Xuyên, chùa Dương Đanh, chùa Bộc, chùa Quảng Bá, chùa Thanh Nhàn...).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp văn bản học: Tiếp cận kinh văn và sử liệu để phân tích thuật ngữ và bối cảnh xuất hiện của âm nhạc.
    • Phương pháp điền dã dân tộc học: Phỏng vấn sâu từng cá nhân theo chuyên đề và phỏng vấn tham dự trong quá trình hành lễ kết hợp ghi âm, ghi hình.
    • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh chiều ngang (âm nhạc Phật giáo với âm nhạc dân gian châu thổ Bắc bộ) và so sánh chiều dọc (âm nhạc Phật giáo Hà Nội với Thái Bình và Thừa Thiên Huế).
    • Phương pháp phân tích âm nhạc học: Bóc tách thang âm, điệu thức, cấu trúc giai điệu, tiết tấu, kỹ thuật lĩnh xướng, hòa tấu khí nhạc và các mô thức nhịp trống.
    • Phương pháp lịch sử (đồng đại và lịch đại) & Tâm lý học tôn giáo: Đặt hiện tượng âm nhạc trong tiến trình lịch sử và khảo sát trạng thái niềm tin tâm linh của chủ thể hành lễ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án

Chương này thiết lập cơ sở dữ liệu và cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ công trình:

  • Phân tích hệ thống nguồn tài liệu đa tầng gồm kinh điển, quốc sử, khảo cổ học, mỹ thuật học và tài liệu điền dã thực chứng.
  • Điểm luận các khuynh hướng nghiên cứu trước đây, chỉ ra rằng các công trình âm nhạc học thuần túy chưa làm nổi bật chiều kích tôn giáo của âm nhạc, còn các công trình lịch sử - tôn giáo học lại thiếu sự phân tích âm nhạc học chuyên sâu.
  • Xây dựng khung phân tích lý thuyết liên ngành (duy vật lịch sử, chức năng luận, vùng văn hóa, tính nhiều tầng nhiều lớp trong âm nhạc cổ truyền, lý thuyết âm nhạc phương Tây) và làm rõ nội hàm hệ thống thuật ngữ chuyên môn.

Chương 2: Đặc điểm nghi lễ Phật giáo và nguồn gốc, diện mạo của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội

Chương 2 khảo sát cấu trúc nghi lễ và truy nguyên lịch sử, phân loại diện mạo âm nhạc Phật giáo:

  • Đặc điểm nghi lễ Phật giáo: Làm rõ hai không gian nghi lễ căn bản:
    1. Nghi lễ Thường nhật: Gồm ba thời khóa tu tập trong ngày (sáng tụng chú Lăng Nghiêm, cúng dâng cơm chư thiên; trưa lễ chính ngọ niệm Phật A Di Đà; chiều tụng kinh, cúng cháo thí thực và thỉnh đại hồng chung). Nghi lễ gắn chặt với quá trình giữ giới qua các bậc tu học (Sa di 10 giới; Tỳ kheo tăng 250 giới; Tỳ kheo ni 348 giới) và tháp Cửu phẩm liên hoa biểu trưng cho ba nấc thang Giới - Định - Tuệ.
    2. Nghi lễ Trai đàn chẩn tế: Xuất phát từ kinh Vu Lan bồn và tích Mục Kiền Liên cứu mẹ. Luận án trích dẫn các mốc lịch sử ghi nhận trong chính sử Việt Nam: lễ Vu Lan cầu siêu cho Linh Nhân hoàng thái hậu năm 1118 (thời Lý), đàn chẩn tế cho vua Lý Nhân Tông năm 1128, lễ cúng chay giải thoát cho hoàng hậu Thiên Cảm năm 1278 (thời Trần) do Tuệ Trung Thượng Sĩ tham dự; các ghi chép của De Marini thế kỷ 17 và các bản khắc in Hán - Nôm thời Tự Đức (thế kỷ 19).
  • Tác động của nghi lễ đến văn hóa làng xã: Ngôi chùa làng đóng vai trò trung tâm cứu rỗi tâm linh và thực hành tín ngưỡng. Mối quan hệ mật thiết giữa người xuất gia và cộng đồng làng xã tạo ra sự hỗn dung giữa nghi lễ Phật giáo và phong tục bản địa (cúng mụ, bán khoán con, tang lễ).
  • Sự phân hóa vùng miền và tông phái: Miền Bắc mang đặc trưng đồng tu tam tông (Tịnh độ - Thiền - Mật), trong khi miền Nam phổ biến Phật giáo Nam tông Khơ Me và Khất sỹ. Sự khác biệt về phương ngữ và văn hóa quy định việc Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội I năm 1981 đến Đại hội V) đều khẳng định không thể áp đặt một hình thức nghi lễ duy nhất mang tính toàn quốc mà chỉ có thể thống nhất trong một số ngày lễ lớn.
  • Diện mạo âm nhạc Phật giáo Hà Nội:
    • Thanh nhạc: 5 thể loại chính gồm Canh (Tán), Kệ, Kinh (Tụng), Than, Thỉnh. Đặc biệt, Hà Nội lưu giữ 13 điệu Canh đặc trưng (Canh Ai, Giả tổ, Lô hương, Chí tâm, Canh Phú, Hoàng kim, Canh Thổng, Canh Hãm, Giới đinh, Tả thủ, Canh Đông ba, Bảo đỉnh, Canh Đàn thượng) gắn liền với các "lò Canh" danh tiếng (lò Chùa Bộc, lò Quảng Bá - Tây Hồ, lò Thanh Nhàn).
    • Khí nhạc: Sử dụng chuông gia trì, chuông đại hồng chung, mõ, khánh, trống, thanh la, não bạt kết hợp các nhạc cụ dân gian (nhị, sáo, tiêu, kèn) theo tư duy tổ chức dàn nhạc Bát âm truyền thống.

Chương 3: Chức năng và một số đặc trưng của âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội

Chương này đi sâu vào phân tích bản chất tôn giáo và đặc trưng nghệ thuật:

  • Chức năng tôn giáo của âm nhạc: Âm nhạc đóng vai trò là phương tiện "Sự" để chuyển tải "Lý" màu nhiệm của đạo Phật. Âm nhạc thực hiện chức năng dẫn dắt nghi lễ, tạo trạng thái thiền định, hỗ trợ hành trì chân ngôn, mật chú, giải trừ nghiệp chướng, thức tỉnh tâm thức tín đồ và liên kết giữa thế giới thực tại với cõi thiêng.
  • Đặc trưng âm nhạc học: Phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa ca từ tiếng Việt mang thanh điệu với đường nét giai điệu; tính độc lập tương đối và tính bổ trợ giữa các thể loại thanh nhạc (Kệ dẫn nhập cho Tán, Kinh tụng theo thể trường hàng); vai trò định hình tiết tấu của mõ và chuông; hệ thống bài bản nhịp trống mang bản sắc phong cách Hà Nội khi so sánh đối sánh với âm nhạc dân gian Bắc bộ (Chèo, Ca trù, Hát văn) và âm nhạc Phật giáo Thái Bình, Thừa Thiên Huế.

Chương 4: Vấn đề bảo tồn và phát huy âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Hà Nội hiện nay

Chương này tập trung vào thực trạng biến đổi và định hướng bảo tồn:

  • Nhận định chung và xu hướng biến đổi: Đánh giá sự chuyển đổi của môi trường diễn xướng nghi lễ trong bối cảnh đô thị hóa; hiện tượng giản lược bài bản, sự mai một của các nghệ nhân cao tuổi tại các lò Canh truyền thống, và nguy cơ pha tạp các phong cách âm nhạc lai căng vào nghi lễ Phật giáo.
  • Đề xuất nhóm giải pháp: Kiến nghị các giải pháp mang tính khả thi nhằm ghi âm, ký âm, tư liệu hóa các làn điệu Canh cổ; mở các lớp truyền dạy bài bản nghi lễ chuẩn mực cho tăng ni trẻ; phát huy vai trò quản lý của Ban Nghi lễ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; tăng cường phối hợp giữa các viện nghiên cứu văn hóa, tôn giáo và âm nhạc để bảo tồn di sản âm nhạc nghi lễ truyền thống của Thủ đô.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
    • Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ứng dụng khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Tôn giáo học, Dân tộc nhạc học và Xã hội học văn hóa để giải mã âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở Hà Nội.
    • Làm sáng tỏ bản chất của mối quan hệ biện chứng giữa "Lý" (giáo pháp Phật giáo) và "Sự" (âm nhạc và nghi thức biểu đạt), chứng minh âm nhạc là một phương tiện thực hành tôn giáo gắn liền với tiến trình Giới - Định - Tuệ.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Tập hợp và khảo cứu một khối lượng tư liệu thực chứng phong phú, kết hợp giữa văn bản kinh điển, văn bia, điêu khắc khảo cổ học với tài liệu điền dã âm thanh, hình ảnh tại các chùa Hà Nội.
    • Hệ thống hóa toàn diện diện mạo âm nhạc Phật giáo Hà Nội: xác định cấu trúc của 13 thể Canh, các lò truyền dạy tiêu biểu (Chùa Bộc, Quảng Bá, Thanh Nhàn), hệ thống bài bản khí nhạc và vai trò của các nhịp trống nghi lễ.
    • Lần đầu tiên phân tích một cách quy chuẩn cấu trúc âm nhạc trong hai không gian nghi lễ điển hình là lễ Thường nhật và lễ Trai đàn chẩn tế ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc bộ.
  3. Kiến nghị và giải pháp ứng dụng:
    • Đề xuất định hướng tư liệu hóa toàn diện các bài bản diễn xướng và mô thức nhạc khí Phật giáo truyền thống Hà Nội.
    • Định hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác giảng dạy chuyên ngành Tôn giáo học, Âm nhạc học dân tộc và hỗ trợ công tác quản lý nghi lễ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở phong cách âm nhạc Phật giáo Hà Nội thuộc khu vực Hà Nội cũ (trước năm 2008) và một số chùa lân cận có cùng phong cách; chưa bao quát các phong cách địa phương khác mới sáp nhập. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào góc độ Tôn giáo học nên các phân tích chuyên sâu về lý thuyết âm nhạc thuần túy (như phân tích chuỗi chuyển dịch thang âm phức tạp hay cấu trúc hòa âm) chỉ dừng lại ở mức độ đại diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu âm nhạc Phật giáo Hà Nội với âm nhạc Phật giáo của các trung tâm Phật giáo lớn khác ở Nam bộ và các nước trong khu vực Đông Nam Á; nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển đổi âm nhạc nghi lễ trong các không gian đô thị hiện đại hóa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học giả chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tôn giáo học, Âm nhạc học, Văn hóa học và Lịch sử Phật giáo Việt Nam.
  • Đối với các cơ sở đào tạo: Cung cấp nguồn học liệu chuyên khảo cho các học viện Phật giáo, trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, học viện âm nhạc trong các môn học về tôn giáo truyền thống và âm nhạc cổ truyền.
  • Đối với nhà quản lý văn hóa và Giáo hội: Hỗ trợ cơ sở khoa học cho Ban Nghi lễ Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cơ quan quản lý di sản trong việc hoạch định chính sách bảo tồn nghi lễ truyền thống, đào tạo tăng ni và thẩm định các giá trị di sản văn hóa phi vật thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định âm nhạc Phật giáo Hà Nội gồm những thể loại thanh nhạc cơ bản nào?
Luận án xác định 5 thể loại thanh nhạc cơ bản gồm Canh (Tán), Kệ, Kinh (Tụng), Than và Thỉnh. Riêng thể loại Canh tại Hà Nội có hệ thống 13 điệu phong phú (Canh Ai, Giả tổ, Lô hương, Chí tâm, Canh Phú, Hoàng kim, Canh Thổng, Canh Hãm, Giới đinh, Tả thủ, Canh Đông ba, Bảo đỉnh, Canh Đàn thượng) và được truyền dạy qua ba "lò Canh" tiêu biểu là Chùa Bộc, Quảng Bá và Thanh Nhàn.

2. Chính sử Việt Nam ghi nhận nghi lễ Trai đàn chẩn tế (Vu Lan bồn) xuất hiện sớm nhất vào thời điểm nào?
Căn cứ vào Đại Việt Sử ký Toàn thư, luận án ghi nhận sự kiện tổ chức lễ Vu Lan bồn cầu siêu sớm nhất trong cung đình là vào tháng 7 năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (năm 1118) thời Lý để cầu siêu cho Linh Nhân hoàng thái hậu (Ỷ Lan), và tháng 7 năm 1128 tổ chức Trai đàn chẩn tế cho vua Lý Nhân Tông.

3. Tại sao Giáo hội Phật giáo Việt Nam chưa ban hành một nghi thức nghi lễ thống nhất tuyệt đối trên toàn quốc?
Do sự phân hóa sâu sắc về lịch sử, tông phái (Bắc tông đồng tu Tịnh - Thiền - Mật ở miền Bắc; Nam tông và Khất sỹ ở miền Nam) và đặc thù phương ngữ, âm nhạc bản địa của từng vùng miền. Các kỳ Đại hội IV và V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng định việc áp dụng một hình thức nghi lễ thống nhất toàn diện là điều khó khả thi, mà chỉ hướng tới thống nhất nội dung và hình thức cho một số ngày lễ trọng đại như Phật đản, Vu Lan, Thành đạo.

4. Khung phân tích lý thuyết chức năng được luận án vận dụng như thế nào?
Luận án vận dụng lý thuyết chức năng của Emile Durkheim và Talcott Parsons để chứng minh âm nhạc là bộ phận cấu thành hữu cơ của cấu trúc nghi lễ Phật giáo. Âm nhạc đóng vai trò là phương tiện "Sự" mang tính cảm tính, gần gũi với người dân bản địa để truyền tải "Lý" giác ngộ của đạo Phật, thực hiện các chức năng giữ gìn giới luật, dẫn dắt tâm linh, thanh lọc thân tâm và giáo hóa cộng đồng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Lâm là công trình nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo tại Hà Nội dưới lăng kính tôn giáo học liên ngành. Tác giả đã làm rõ tiến trình lịch sử, cấu trúc nghi lễ Thường nhật và Trai đàn chẩn tế, đồng thời hệ thống hóa toàn diện diện mạo thanh nhạc và khí nhạc Phật giáo Thăng Long - Hà Nội. Công trình khẳng định âm nhạc nghi lễ Phật giáo là một thành tố hữu cơ cấu thành di sản âm nhạc truyền thống dân tộc, mang giá trị lý luận và thực tiễn cao cho nghiên cứu tôn giáo và văn hóa Việt Nam.