chương 1, tác giả đã giới thiệu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, các mục tiêu nghiên cứu hướng đến để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu còn thiếu, đồng thời tác giả đã trình bày tổng quan về tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, giới thiệu về đối tượng, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu,. – đây là nền tảng bắt đầu cho các chương tiếp theo. 1 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG XANH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG XANH TẠI BIDV 2. Tổng quan về ngân hàng xanh 2.
Khái niệm Tại nhiều nước trên thế giới, ngân hàng xanh là một khái niệm mới được biết đến trong những năm gần đây, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, bởi lẽ các quốc gia đều đang phải đối mặt với những tác động nặng nề ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và các yêu cầu về bảo vệ môi trường đang bị đánh đổi để đạt được mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải nhìn nhận lại cách thức tổ chức và các mô hình hoạt động trong hệ thống tài chính của mình, bao gồm các ngân hàng. Các vấn đề về phát triển bền vững, trách nhiệm kinh doanh và trách nhiệm xã hội, đạo đức, môi trường đều được xem xét lại dưới một tầm quan trọng cao hơn. Tại đây, ngân hàng xanh nổi lên như một hình mẫu cho ngân hàng trong tương lai, là nền tảng cho việc hướng đến một nền kinh tế xanh phát triển bền vững.
Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) và 9 ngân hàng quốc tế họp ở London bàn về trách nhiệm của các ngân hàng đối với tài chính phát triển và quyết định xây dựng một bộ tiêu chuẩn thực hiện trách nhiệm đối với môi trường, xã hội dựa trên các bộ tiêu chuẩn đã có của IFC. Nguyên tắc xích đạo (EPFIs) về tài trợ dự án được chính thức ra đời năm 2003 dựa trên Bộ tiêu chuẩn hoạt động về Môi trường – Xã hội và Hướng dẫn môi trường, Sức khỏe và An toàn (EHS) đã thu hút 77 tổ chức tài chính tham gia cam kết. Bộ tiêu chuẩn này đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại và xếp hạng các ngân hàng xanh hiện nay. Trong đó, một ngân hàng được coi là ngân hàng xanh khi thỏa mãn đầy đủ 23 tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội và 47 tiêu chuẩn về trách nhiệm môi trường.
Khái niệm về ngân hàng xanh đã được phát triển đầu tiên ở các nước phương Tây vào năm 2003 với mục đích nhằm bảo vệ môi trường (Lalon, 2015). Ngân hàng xanh có thể được hiểu trên hai khía cạnh: thứ nhất, hoạt động ngân hàng xanh trong nội bộ ngân hàng (thông qua những hoạt động giảm thiểu tác động trực tiếp bên trong khu vực ngân hàng đến môi trường như sử dụng năng lượng, giấy, nước, .); thứ hai, hoạt động ngân hàng xanh đối với bên ngoài thông 1 qua các hành động gián tiếp nhằm tác động, ảnh hưởng đến môi trường do chính khách hàng của ngân hàng gây ra. Cũng có quan điểm cho rằng, ngân hàng xanh là ngân hàng hoạt động như một ngân hàng truyền thống, trong đó cung cấp các sản phẩm dịch vụ vượt trội cho khách hàng và triển khai các chương trình giúp ích cho môi trường, cho cộng đồng. Theo nghĩa hẹp, có thể hiểu rằng, ngân hàng xanh đề cập đến các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải cacbon.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn, có thể nói ngân hàng xanh là ngân hàng bền vững (Imeson M., 2010), ngân hàng phát triển bền vững nếu đặt các lợi ích của ngân hàng gắn liền với lợi ích của môi trường, xã hội. Tại hội thảo “Tài chính và ngân hàng xanh” tổ chức vào ngày 25/06/2013 dưới sự chủ trì của Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) phối hợp với Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính, bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng – đại diện Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) giải thích “ngân hàng xanh là các hoạt động, nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng nhằm khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải carbon”. Từ khái niệm này, chúng ta có thể hiểu một ngân hàng được gọi là xanh sẽ phải tích cực thực hiện các hoạt động như khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ xanh; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường khi cấp duyệt vốn vay, cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm phát thải carbon, dự án về năng lượng tái tạo,. Theo Biswas (2016), định nghĩa ngân hàng xanh là tương đối dễ dàng với sự kết hợp và thúc đẩy các hoạt động môi trường thân thiện và giảm lượng khí thải carbon (carbon footprint) (hay còn được gọi là dấu chân carbon) từ hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng xanh đề cập đến các hoạt động kinh doanh ngân hàng tiến hành trong các lĩnh vực và theo cách thức giúp giảm khí thải carbon bên ngoài và dấu chân carbon nội bộ ngân hàng. Để hỗ trợ cho việc giảm phát thải carbon bên ngoài, các ngân hàng nên tài trợ cho các dự án công nghệ xanh và các dự án ô nhiễm. Về giảm thải dấu chân carbon nội bộ bên trong ngân hàng, mặc dù ngân hàng không bao giờ được coi là một ngành công nghiệp gây ô nhiễm, nhưng quy mô hoạt động hiện tại của ngân hàng làm tăng đáng kể lượng khí thải carbon của ngân hàng do sự sử dụng khổng lồ của họ (VD: Chiếu sáng, điều hòa không khí, điện tử, thiết bị điện, CNTT, v.), nhiều rác thải giấy, thiếu các tòa nhà xanh, v. Vì vậy, các 1 ngân hàng nên áp dụng công nghệ, quy trình và sản phẩm mà kết quả làm giảm đáng kể lượng khí thải carbon cũng như phát triển kinh doanh bền vững.
Kaeufer (2010) và González (2008) đã chỉ ra xu thế tất yếu của việc phát triển mô hình ngân hàng xanh và trách nhiệm xã hội với việc cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng xanh và tác động của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng xanh đến hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo tăng trưởng xanh và bền vững. Trong đó, ngân hàng xanh được chia ra làm 5 cấp độ phát triển, từ thấp đến cao, cụ thể là: Cấp độ 1: Thực hiện các hoạt động phụ, bằng cách tài trợ cho các sự kiện xanh và tham gia các hoạt động công cộng (hầu hết các ngân hàng đều đang ở cấp độ này). Cấp độ 2: Tách bạch phát triển dự án và hoạt động kinh doanh, trong đó ngân hàng phát triển thêm các sản phẩm và dịch vụ xanh riêng biệt (chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ) bổ sung vào danh mục các sản phẩm ngân hàng truyền thống. Cấp độ 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống, trong đó hầu hết các quy trình, sản phẩm của ngân hàng đều tuân thủ nguyên tắc xanh, cơ cấu tổ chức của ngân hàng được thiết kế để hỗ trợ tác động xanh ở trên 4 giác độ: con người, quy trình, nguyên tắc và mục đích.
Cấp độ 4: Sáng kiến cân bằng hệ sinh thái tầm chiến lược, hoạt động ngân hàng xanh không chỉ giới hạn ở phạm vi các nghiệp vụ đơn lẻ mà được mở rộng thành mạng lưới, liên minh, đối thoại cộng đồng, hay toàn hệ sinh thái nhằm đạt được tính bền vững của các yếu tố xã hội – môi trường và tài chính. Cấp độ 5: Sáng kiến cân bằng hệ sinh thái chủ động, trong đó các hoạt động ngân hàng xanh tương tự như cấp độ 4, song được thực hiện một cách chủ động, có mục đích chứ không phải là hoạt động ứng phó sự thay đổi bên ngoài như sáng kiến tầm chiến lược ở cấp độ 4. Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng “ngân hàng xanh” là ngân hàng hoạt động trên nền tảng có trách nhiệm với môi trường tự nhiên và xã hội thông qua (1) cung cấp dịch vụ ngân hàng ưu tiên cho việc bảo vệ sự phát triển bền vững của tự nhiên và xã hội; (2) sự vận hành nội bộ như tiết kiệm điện, nước, giấy, v.v hoặc giảm xả thải, tái sử dụng các rác thải trong quá trình hoạt động. 1 Ở nghiên cứu này, tác giả đề cập khái niệm ngân hàng xanh để chỉ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng khuyến khích các hoạt động vì môi trường, giảm phát thải carbon, bảo đảm có sự gia tăng về lợi nhuận và tác động gìn giữ, bảo vệ môi trường.
Ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững nếu đặt lợi ích của ngân hàng gắn liền với các lợi ích của môi trường và xã hội. Đặc điểm ngân hàng xanh Theo Hồ Ngọc Tú & Nguyễn Mai Hảo (2016), Ngân hàng xanh có những đặc điểm chính như: (i) Triển khai các dịch vụ điện tử và tự động hóa: Thông qua việc áp dụng nền tảng công nghệ hiện đại, các ngân hàng triển khai dịch vụ điện tử với đầy đủ các loại hình dịch vụ cơ bản như gửi tiền, rút tiền, đổi ngoại tệ, truy vấn, giao dịch trực tuyến, nộp thuế và dịch vụ khách hàng… giúp khách hàng linh hoạt và chủ động hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, xóa bỏ hạn chế về thời gian. Đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hình thành hệ thống giao dịch tự động, tích hợp nhiều dịch vụ, tạo sự thuận tiện cho khách hàng. (ii) Ưu tiên cho vay hoặc đầu tư vào dự án có đánh giá các rủi ro liên quan đến môi trường: Các ngân hàng quan tâm đến tín dụng xanh là những khoản cấp tín dụng mà ngân hàng cấp cho các dự án ít gây rủi ro đối với môi trường hoặc nhằm bảo vệ môi trường.
Các ngân hàng tuân thủ quy định về pháp luật môi trường, thực thi công cụ đánh giá tác động môi trường và xã hội để triển khai việc đánh giá, thẩm định dự án trước khi cho vay, hướng tới tăng trưởng bền vững và phát triển xanh, khuyến khích doanh nghiệp bảo vệ môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. (iii) Quan tâm đến các mục tiêu xã hội, mục tiêu phát triển bền vững và phát triển xanh. (iv) Giám sát, hướng dẫn các dự án của khách hàng để giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Các ngân hàng tăng cường hoạt động ngân hàng xanh trong việc ban hành tiêu chuẩn báo cáo chung, có các biện pháp quản lý đối với dự án.