CHƯƠNG 1: CƠ S LÝ LUN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về công tác hướng nghiệp Vn đề việc làm luôn đưc sự quan tâm cch đặc biệt không chỉ tại Việt Nam, cc quốc gia trên thế giới đều có rt nhiều chính sch, cc chương trình khc nhau nhm gim thiểu tình trạng tht nghiệp. Việc ĐHNN cho một người ngay từ thời điểm đang học chương trình phổ thông là rt quan trọng, bi vì đó là thời k một người bắt đầu định hướng cho mình một nghề nghiệp nht định trong tương lai, họ sẽ tr thành lực lưng lao động cho x hội trong tương lai.
Ngay từ những năm 1880, người đầu tiên đề nghị đưa phương php Test trắc nghiệm tâm lý vào công tác tuyển chọn nghề là nhà tâm lý học Mĩ. Kettell, năm 1883, nhà Tâm lý học Anh F. Gallton lần đầu tiên sử dụng Test để chẩn đon nhân cách nhm mục đích tư vn nghề nghiệp. Năm 1910 một Hội đồng hướng nghiệp đưc thành lập New York.
Nhiệm vụ của các hội đồng hướng nghiệp này là nghiên cứu các yêu cầu của nghề đối với con người, tìm hiểu một cách chi tiết về năng lực của HS từ đó gip HS lựa chọn cho mình một nghề phù hp. Tại Liên Xô, trong bài báo "Chọn nghề" (1925) Krupxkaia phê phán tính cht thực dụng của k thuật tâm lý sử dụng trong hướng nghiệp một số nước tư bn, và chỉ ra nhiệm vụ hàng đầu của k thuật tâm lý XHCN là: khi gii quyết vn đề tuyển chọn nghề; phi chú ý sao cho thanh niên chọn đưc nghề có thể giúp họ phát triển nhân cch hài hòa, đem lại cho họ sự tha mãn và niềm vui. Tuy nhiên, cc nhà sư phạm Xô Viết đ chỉ ra đưc tầm quan trọng của việc hướng nghiệp, tư vn chọn nghề nghiệp, họ đng đắn khi xem hướng nghiệp là phương tiện để pht triển hài hoà nhân cch của cc thanh niên và gip họ định hướng nghề nghiệp cho phù hp. Tuy nhiên, họ vẫn chưa có chuyên gia về tư vn, tuyển chọn nghề, cơ s vật cht còn yếu, và vn đề hướng nghiệp chưa có phương php hoàn chỉnh mà mới chỉ có lý thuyết.
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học M J.L Holland đ nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và s thích nghề nghiệp tác gi đ chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân 8 có thể chọn để có đưc kết qu làm việc cao nht. Holland đ phân tích 6 nhóm nghề nghiệp và phân tích những môi trường làm việc cùng với những công việc phù hp với từng nhóm tính cch đó. Đến những năm 1977 tr về sau đ có rt nhiều cc nhà nghiên cứu về cc hình thức, phương thức hướng nghiệp trường học như: Hart& Morgan (1977); M. Paul Heppner (2004) ; Jennifer M Kidd (2006); Mary McMahon và Wendy Patton (2006) Rudolf Kohoutek (2012); David Capuzzi & Mark D.
Stauffer (2011);… đ nhn mạnh vai trò của việc hướng nghiệp trong nhà trường, đưa ra cc mô hình và lý thuyết, quan điểm khc nhau về ĐHNN, khuyến khích việc kết hp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sn xut, tham quan, thực tập cc nhà my, xí nghiệp nhm nâng cao nhận thức của HS về nghề nghiệp. Họ nhn mạnh về tầm quan trọng của tư vn, tham vn nghề nghiệp, đề cao tính tự quyết của người đưc tham vn thông qua sự tr gip của cc chuyên gia. Năm 1981, Hội đồng Chính phủ (Việt Nam) ban hành Quyết định 126- CP về công tc đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp và sử dụng hp lý HS tốt nghiệp phổ thông (19-3-1981) thì hoạt động hướng nghiệp mới đưc coi là nhiệm vụ của toàn xã hội, là một phần của công tác dạy học và giáo dục trong nhà trường phổ thông. Trong thời k này, hàng loạt cc công trình nghiên cứu, cc hệ thống lý thuyết, quan điểm ra đời, bao gồm nhiều tc gi như: Phạm Tt Dong, Đặng Danh Ánh, Võ Nguyên Gip, Đặng Thành Hưng, Đoàn Chi, Nguyn Minh Đường, Nguyn Văn Hộ, Nguyn Thị M Lộc, Nguyn Văn Lê, … Cc tc gi nhn mạnh tầm quan trọng của hướng nghiệp và vai trò vùng với trch nhiệm của nhà trường, cc ban ngành đoàn thể có liên quan trong việc ĐHNN cho HS, cc biện php, cơ s lý luận về hướng nghiệp.
Năm 1997, Thành Đoàn Hà Nội cũng có một nghiên cứu về xu hướng nghề nghiệp của sinh viên. Trong nghiên cứu này đ chỉ ra những bt cập, nhiều sinh viên đ không hài lòng với ngành mình đang học từ đó gim hứng thú học tập. Đối với tc gi Đặng Danh Ánh, Trong nghiên cứu đề tài “Mô t các nghề đào tạo nhm mục đính hướng nghiệp” (Ánh, Giáo dục hướng nghiệp Việt Nam, 2010), tc gi đ chỉ ra quy trình tư vn nghề nghiệp bao gồm 7 bước, đề tài đ đưa ra đưc 9 quy trình cụ thể để d dàng thực hiện hơn. Tuy nhiên, tc gi chưa đưa ra đưc cc nguyên tắc, biện php, k thuật sử dụng cc bước đó như thế nào và chưa nêu rõ cc yếu tố tc động đến việc lựa chọn ngành nghề của HS THPT.
Trong nghiên cứu “Đánh giá của học sinh lớp 12 về thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT một số tnh miền Đông Nam Bộ” (Linh, 2017) tc gi Nguyn Trần Vĩnh Linh tập trung vào phần đnh gi của học sinh và công tc GDHN tại cc trường THPT mà không phân tích rõ những yếu tố khc nhau có thể tc động đến quyết định của HS THPT. Đều nghiên cứu sâu về hoạt động GDHN, tuy nhiên tc gi Trương Thị Hoa lại chọn chuyên sau về hoạt động tham vn trong GDHN, tc gi đ có ci nhìn sâu hơn về nhu cầu của cc em HS THPT, tc gi cũng phân tích những hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường, công tc hướng nghiệp của thầy cô, cc cơ quan chức năng có liên quan, tt c những quan điểm của Trương Thị Hoa đưc thể hiện qua nghiên cứu trong Luận n Tiến sĩ Khoa Gio dục với đề tài “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông khu vực Hà Nội qua tham vấn nghề” (Hoa, 2014), đây tc gi đ rt sâu sắc khi nghiên cứu rõ nhu cầu của học sinh và cc hoạt động GDHN của nhà trường, thầy cô cũng như cc cp qun lý, tuy nhiên tc gi không đi sâu vào phân tích những yếu tố khch quan như bạn b, nhóm, phương tiện truyền thông đại chng,… Cc yếu tố đó cũng có tc động không hề nh đến việc HS THPT lựa chọn nghề nghiệp. Trong nghiên cứu của tc gi Nguyn Thị Trường Hân với đề tài “Thực trạng công tác tư vấn hướng nghiệp một số trường Trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” (Hân, 2011) tc gi lại có ci nhìn tổng quan hơn khi phân tích những nguồn thông tin tc động đến HS THPT từ hệ thống vi mô, trung mô đến vĩ mô, nhưng tc gi chỉ tập trung vào công tc tư vn hướng nghiệp nhiều hơn là đi sâu phân tích những yếu tố tc động đến việc HS THPT lựa chọn ngành nghề. Các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến việc lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT Năm 1895, F.
Galton cùng với nhà Tâm lý học Php A.Binet đ thành lập S tư vn nghề nghiệp đầu tiên tại Php. Đến đầu thế kỷ XX cc cơ s dịch vụ tư vn, hướng nghiệp lần lưt ra đời M, Anh, Cộng hòa Liên bang Đức…. Gio sư Frank Parsons 10 (1854 –1908) là gio sư người M đ đưa ra những lý thuyết về cc yếu tố nh hưng đến việc chọn nghề, ông tiếp cận và nhn mạnh nhiều tới yếu tố nhân cch. Trong Luận văn thạc sĩ của tc gi Nguyn Phương Toàn, tc gi đ thực hiện nghiên cứu “Kho sát các yếu tố tác động đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 trung học phổ thông trên địa bạn tnh Tiền Giang” (Toàn, 2011), tc gi đ cho thy một cch rt khnh quan về những yếu tố nh hưng đến việc chọn nghành nghề của HS THPT như: Yếu tố gia đình, yếu tố giáo dục hướng nghiệp của nhà trường, yếu tố bạn bè, yếu tố cc phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội, tc gi đ khi qut cụ thể 8 yếu tố và trình bày trong luận văn.
Tuy nhiên, tc gi chưa đi sâu và nhn mạnh vào cc đặc điểm c nhân, đặc điểm gia đình và những yếu tố môi trường mà có thể nh hưng đến việc lựa chọn ngành nghề của HS THPT. Hơn nữa, tc gi chỉ tập trung vào “Quyết định dự thi vào trường đại học”, trên thực tế hiện nay có rt nhiều học sinh quyết định không theo đại học mà lại học nghề, về phụ gip cha m, kinh doanh,. Nghiên cứu của tc gi chỉ nhn mạnh đến HS lớp 12, tuy nhiên cc em cần phi lựa chọn chuyên ngành cho mình ngay từ khi bước vào lớp 10 để có thể định hướng chính xc hơn và không bị chậm tr. Trong đề tài nghiên cứu “Các yếu tố nh hưng đến quyết định chọn trường Đại học của học sinh phổ thông trung học” của hai tc gi (Trần Văn Quí & Cao Hào Thi, 2009) Trường ĐH Bch Khoa, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện trên cc bạn học sinh lớp 12 đ nhn mạnh về khía cạnh nh hưng của yếu tố c nhân, không những thế bài nghiên cứu còn nhn mạnh đến những yếu tố ngoài tc động đến cc em như: Yếu tố về đặc điểm của trường đại học; Yếu tố về cơ hội việc làm trong tương lai, Yếu tố về nỗ lực giao tiếp với học sinh của cc trường đại học,… Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay có rt nhiều học sinh không lựa chọn theo học đại học mà chọn những con đường khc nhau cho nghề nghiệp của mình, như vậy chng ta cũng cần phi tìm hiểu những yếu tố đ tc động đến lựa chọn của cc em ngoài cc yếu tố liên quan đến sự nh hưng của cc trường đại học.