NHỮNG YẾU TỐ CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở HÀ NỘI HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP THÁO GỠ

Tìm hiểu các yếu tố cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội hiện nay. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp tháo gỡ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

CNDVBC và CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

217
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về lực lượng sản xuất và các yếu tố cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

2.1. Lực lượng sản xuất

2.2. Các yếu tố cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NHỮNG YẾU TỐ CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

3.1. Các yếu tố bên trong cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội hiện nay

3.2. Các yếu tố bên ngoài cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội hiện nay

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÁO GỠ NHỮNG YẾU TỐ CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

4.1. Nhóm giải pháp tháo gỡ những yếu tố bên trong cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội hiện nay

4.2. Nhóm giải pháp tháo gỡ những yếu tố bên ngoài cản trở phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội hiện nay

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Lực Lượng Sản Xuất Hà Nội Cản Trở 55kt

Hà Nội, thủ đô của Việt Nam, đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Hà Nội trở thành một đô thị “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”. Tuy nhiên, sự phát triển này đối mặt với không ít thách thức. Một trong những nguyên nhân chính là lực lượng sản xuất chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có. Việc thu hút nguồn lực đầu tư cho giáo dục, khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế còn gặp nhiều rào cản. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích các yếu tố cản trở phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội và đề xuất các giải pháp tháo gỡ hiệu quả. Để đạt được mục tiêu phát triển, Hà Nội cần phải giải quyết triệt để những vấn đề này. Cải thiện hạ tầng kinh tế, thu hút nhân tài và thúc đẩy đổi mới sáng tạo là những yếu tố then chốt. Thành công của Hà Nội sẽ đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của Việt Nam.

1.1. Vai trò của Lực lượng Sản xuất với Kinh tế Hà Nội

Lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế của Hà Nội. Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của lực lượng sản xuất giúp tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều việc làm và nâng cao đời sống người dân. Theo đó, lực lượng sản xuất bao gồm người lao động có kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm, cùng với các công cụ, máy móc, thiết bị và công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất. Đầu tư vào giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là yếu tố then chốt để phát triển lực lượng sản xuất. Đồng thời, cần có các chính sách phù hợp để thu hút và giữ chân nhân tài, tạo môi trường làm việc sáng tạo và khuyến khích đổi mới.

1.2. Tầm quan trọng của Nghiên cứu về Cản trở Phát triển

Nghiên cứu về các yếu tố cản trở phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội là vô cùng quan trọng. Việc xác định rõ những cản trở này giúp chính quyền thành phố và các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các giải pháp phù hợp và hiệu quả. Theo đó, Cản trở có thể đến từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm thể chế, chính sách, hạ tầng, nguồn nhân lực và văn hóa. Cần có một cái nhìn tổng thể và toàn diện để đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch phát triển lực lượng sản xuất của Hà Nội trong tương lai.

II. Top 5 Cản Trở Chính Phát Triển Kinh Tế Hà Nội 57kt

Sự phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức. Tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chậm lại, kinh tế tri thức và kinh tế đô thị chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do lực lượng sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình trạng quy hoạch đô thị còn nhiều hạn chế, hạ tầng giao thông và hạ tầng số chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa. Việc thu hút đầu tư xã hội vào giáo dục và khoa học công nghệ gặp nhiều rào cản về thể chế. Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động. Cần có những giải pháp đột phá để giải quyết những cản trở này và thúc đẩy sự phát triển bền vững của Hà Nội.

2.1. Hạn chế về Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao tại Thủ Đô

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, Hà Nội đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng mềm và khả năng sáng tạo. Theo luận án của Hoàng Thị Ngân (2024), công tác đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, thu hút và giữ chân nhân tài, tạo môi trường làm việc hấp dẫn và khuyến khích học tập suốt đời. Đổi mới sáng tạo cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực.

2.2. Bất cập trong Hạ Tầng Kinh Tế Quản Lý Đô Thị

Hạ tầng kinh tế và quản lý đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, Hà Nội đang đối mặt với nhiều bất cập trong lĩnh vực này. Theo Nghị quyết Đại hội XIII, hệ thống hạ tầng đô thị, nhất là hạ tầng số và giao thông, triển khai chậm và chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa. Tình trạng ùn tắc giao thông, ngập úng và ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của người dân. Cần có các giải pháp đồng bộ để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế hiện đại, quy hoạch đô thị hợp lý và quản lý đô thị hiệu quả.

III. Cách Tháo Gỡ Cản Trở Bên Trong Giải Pháp Chi Tiết 59kt

Để thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Hà Nội, cần tập trung vào việc tháo gỡ những cản trở bên trong. Theo Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, điều này đòi hỏi sự đổi mới toàn diện trong các lĩnh vực như giáo dục, khoa học công nghệ, quản lý nhà nước và môi trường kinh doanh. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện cơ cấu kinh tế và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng là những yếu tố then chốt. Cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, và thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời, cần tăng cường năng lực quản lý nhà nước, giảm thiểu thủ tục hành chính và phòng chống tham nhũng.

3.1. Nâng cao Chất lượng Giáo dục Đào tạo Nguồn Nhân lực

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, tăng cường đào tạo thực hành và kỹ năng mềm, và khuyến khích học tập suốt đời. Cần tăng cường liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng và doanh nghiệp, đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Chính sách thu hút các chuyên gia, nhân tài, nhà khoa học có trình độ về làm việc tại Thủ đô còn hạn chế, thiếu chính sách cụ thể đủ hấp dẫn nhân tài. Cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao, phát triển công nghệ còn thiếu và chưa đồng bộ. Xây dựng hạ tầng kinh tế (các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, trung tâm thương mại, chợ, khu du lịch, trung tâm logictics…) chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

3.2. Thúc đẩy Đổi mới Sáng tạo Ứng dụng Khoa học Công nghệ

Đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của lực lượng sản xuất. Cần tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Cần xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động, bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Đồng thời, cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và khuyến khích chuyển giao công nghệ.

IV. Giải Quyết Cản Trở Bên Ngoài Chiến Lược Toàn Diện 58kt

Bên cạnh những cản trở bên trong, lực lượng sản xuất ở Hà Nội còn đối mặt với nhiều cản trở bên ngoài, bao gồm các yếu tố toàn cầu, khu vực và quốc gia. Để giải quyết những cản trở này, cần có một chiến lược toàn diện, kết hợp các giải pháp kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Theo luận án của Hoàng Thị Ngân (2024), cần tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do, và xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy với các nước và tổ chức quốc tế. Đồng thời, cần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Hà Nội.

4.1. Tăng cường Hội nhập Kinh tế Quốc tế và Hợp tác

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu và mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Cần chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tận dụng các lợi thế so sánh và học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển. Cần tăng cường hợp tác với các nước và tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực như giáo dục, khoa học công nghệ, đầu tư và thương mại. Điều này có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của một phương thức sản xuất nói chung và sự phát triển của thành phố Hà Nội nói riêng.

4.2. Cải thiện Môi trường Đầu tư Kinh doanh Hấp dẫn

Môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi là yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và khuyến khích các doanh nghiệp trong nước phát triển. Cần tiếp tục cải thiện thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí tuân thủ, và đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các hoạt động kinh doanh. Đồng thời, cần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện và hiệu quả, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và công bằng.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Mô Hình Phát Triển Kinh Tế Hà Nội 60kt

Nghiên cứu về các yếu tố cản trở phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế phù hợp. Theo Nghị quyết số 15-NQ/TW, mô hình phát triển kinh tế của Hà Nội cần dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, dịch vụ hiện đại và nông nghiệp công nghệ cao. Đồng thời, cần chú trọng đến phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Mô hình phát triển này cần được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước.

5.1. Phát triển Kinh tế Tri thức Ứng dụng Công nghệ 4.0

Kinh tế tri thức và ứng dụng công nghệ 4.0 là xu hướng tất yếu của sự phát triển kinh tế trong kỷ nguyên số. Cần xây dựng một hệ sinh thái kinh tế tri thức năng động, bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Cần khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ 4.0 vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ thông minh và có giá trị gia tăng cao. Cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong các lĩnh vực như quản lý nhà nước, giáo dục, y tế và giao thông.

5.2. Thúc đẩy Phát triển Bền vững Bảo vệ Môi trường

Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là những yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Cần xây dựng một nền kinh tế xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng, giảm thiểu khí thải và chất thải. Cần tăng cường công tác quản lý môi trường, xử lý ô nhiễm và bảo tồn đa dạng sinh học. Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường và khuyến khích các hành vi thân thiện với môi trường.

VI. Tương Lai Lực Lượng Sản Xuất Hà Nội Hướng Đến Đâu 57kt

Để đạt được mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành Thủ đô “Xanh - Văn hiến - Thông minh - Hiện đại”, cần có một tầm nhìn chiến lược về phát triển lực lượng sản xuất. Theo Nghị quyết Đại hội XIII, Hà Nội cần đi đầu trong xây dựng nông thôn mới, nông thôn kiểu mẫu, thúc đẩy mạnh mẽ các trung tâm đổi mới sáng tạo, tập trung phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ hiện đại. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố Hà Nội trong việc tháo gỡ những cản trở và khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của Thủ đô.

6.1. Xây dựng Lực lượng Sản xuất Hiện đại Thông minh

Để đạt được tầm nhìn chiến lược, Hà Nội cần xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại và thông minh, có khả năng đáp ứng được yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Cần tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng số, khả năng tư duy sáng tạo và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa. Cần khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới và phát triển các sản phẩm, dịch vụ thông minh.

6.2. Duy trì Phát huy Bản sắc Văn hóa trong Phát triển Kinh tế

Phát triển kinh tế không chỉ là tăng trưởng về số lượng mà còn là nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Hà Nội cần duy trì và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển kinh tế, tạo ra một môi trường sống hài hòa và bền vững. Cần khuyến khích các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo và hấp dẫn. Đồng thời, cần bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, truyền lại cho các thế hệ sau.

15/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.Các công trình nghiên cứu lý luận về lực lượng sản xuất và các yếu tố cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Tình hình nghiên cứu trong nước Lý luận về lực lượng sản xuất và những yếu tố tác động đến sự phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề được nghiên cứu trong rất nhiều công trình, vì đó là vấn đề cơ bản của triết học xã hội. Dưới đây là tóm tắt nội dung của những công trình nghiên cứu chủ yếu gần đây ở Việt Nam về vấn đề này. Nguyễn Thị Lan Hương (2006), (Tạp chí Triết học, số 9, có bài viết “Tác động của cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin đến lực lượng sản xuất – nhìn từ góc độ triết học” [86, tr. Trong bài viết này, tác giả đã luận giải thực chất của cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin, trên cơ sở đó, phân tích tác động của nó đến lực lượng sản xuất trong nền kinh tế hiện đại.

Theo tác giả, cách mạng thông tin là yếu tố đóng vai trò thúc đẩy việc biến tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (tạo dựng kinh tế tri thức, phát huy vai trò ngày càng cao của tri thức, làm cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế). Công nghệ thông tin đóng vai trò là công nghệ chìa khóa trong hệ thống các công nghệ cao, làm thành trụ cột của nền kinh tế tri thức gồm: công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin. Dưới tác động của Internets, tri thức ngày càng mang tính xã hội hóa cao độ, tính quốc tế hóa và đại chúng hóa của Internets đang làm giảm sự độc quyền về tri thức; ngày nay tri thức không còn là độc quyền sở hữu của các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kỹ thuật hay những ông chủ tư bản. Khi đã được xã hội hóa nhờ công nghệ thông tin, tri thức được phổ biến tới đông đảo quần chúng cả về quy mô, tốc độ và nhờ đó, thúc đẩy việc đưa các phát minh khoa học, các sáng chế công nghệ vào quá trình sản xuất một cách nhanh nhất; khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản xuất đang không ngừng được rút ngắn một cách tối đa.

Chính điều đó đang tạo ra động lực cho LLSX phát triển trên quy mô quốc tế, thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa. Công nghệ thông tin hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến các yếu tố của LLSX: tạo ra những biến đổi to lớn trong phân công lao động xã hội, làm thay đổi cơ cấu lao động, làm biến đổi nội dung và tính chất của lao động. Cách 7 mạng công nghệ thông tin đến sự phát triển của LLSX, làm thay đổi các yếu tố cấu thành LLSX; phân tích làm rõ tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố của LLSX, trước hết là tạo ra những biến đổi to lớn trong phân công lao động xã hội theo hướng tăng lao động trí óc và giảm lao động chân tay; làm xuất hiện một dạng lao động mới – lao động thông tin. Lao động thông tin là sản xuất, xử lý, trao đổi thông tin, cung cấp những cơ sở cho việc ra quyết định.

Phân công lao động trong nền kinh tế mới không phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, ngành nghề được đào tạo, nguồn lao động dồi dào hay lực lượng tư bản như trước đây, mà ngày càng dựa nhiều vào lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức. Cùng với sự xuất hiện của lao động thông tin, cơ cấu ngành nghề cũng biến đổi nhanh chóng. Số lao động liên quan đến thông tin và xử lý thông tin tăng nhanh (đặc biệt ở lĩnh vực máy tính, nghiên cứu, triển khai, phân tích, đo lường, giáo dục – đào tạo) tăng nhanh. Cơ cấu lao động biến đổi theo hướng tăng đội ngũ chất xám.

Cách mạng công nghệ thông tin đã góp phần làm biến đổi cả nội dung và tính chất của lao động. Về nội dung, lao động đang chuyển dần từ lao động thủ công, lao động cơ khí sang lao động thông tin, lao động trí tuệ. Về tính chất, lao động đang biến đổi theo hướng ngày càng mang tính chất xã hội hóa sâu sắc, thể hiện ở việc tổ chức sản xuất trực tiếp giữa các đơn vị sản xuất diễn ra trên một quy mô lớn với sự phân công lao động vừa đảm bảo khả năng chuyên môn hóa, vừa có khả năng phi chuyên môn hóa một cách rộng rãi. Công nghệ thông tin là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế.

Về kỹ thuật, nhờ những phát minh của công nghệ thông tin như bộ vi xử lý, vệ tinh viễn thông, cáp quang, đặt biệt là internet đã kết nối thế giới nhanh chóng và chặt chẽ hơn. Toàn cầu hóa ngày nay, ngoài việc dựa trên cơ sở Internet và thương mại điện tử, còn dựa trên nền tảng của sản xuất với sự chuyên môn hóa và phi chuyên môn hóa cao độ. Chất lượng hàng hóa ngày nay mang quy chuẩn quốc tế, thể hiện qua các ISO. Đó là một yêu cầu nhưng cũng là một thực tế cho thấy tính quốc tế hóa, toàn cầu hóa cao độ của sản phẩm sản xuất.

Nguyễn Hữu Khiển (2009) (trong Tạp chí Triết học, số 3) có bài“Học thuyết Mác và vấn đề hoàn thiện các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”[95]. Trong bài viết này, tác giả cho rằng, với phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ khái quát đến các yếu tố của sự vật, hiện tượng, C.Mác đã kế thừa các học 8 thuyết xã hội trước đó và khẳng định rằng phương thức sản xuất (PTSX) là yếu tố quan trọng và quyết định nhất, là tiêu chí cơ bản thể hiện trình độ của tiến bộ xã hội, phân biệt các chế độ xã hội khác nhau. Với phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, bằng những sự kiện của lịch sử trong sản xuất xã hội và các quá trình xã hội khác, chúng ta có thể làm sáng tỏ thêm rằng mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX quyết định sự phát triển của các PTSX, quyết định sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử. Cũng theo tác giả, triết học Mác coi LLSX là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố cấu thành PTSX xã hội, quyết định xu hướng, tốc độ, nhịp độ vận động của các QHSX; đến nay quan điểm đó vẫn còn nguyên giá trị.

Khi vận dụng quan điểm của C.Mác về LLSX chúng ta cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: (1) Nhận thức đúng đắn quan điểm của C.Lênin; (2) Không máy móc, giáo điều; học thuyết Mác cần được vận dụng một cách sáng tạo sao cho có thể thích ứng với một xã hội cụ thể, một quốc gia, dân tộc cụ thể…(3) Vận dụng sáng tạo học thuyết Mác vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể sao cho có thể hướng tới việc phát huy cao nhất các yếu tố vốn có, các yếu tố mới sáng tạo, các nguồn lực của đất nước và dân tộc. (4) Cần xác định rõ vị trí và vai trò của LLSX trong xã hội, cũng như vị trí vai trò của từng yếu tố cấu thành LLSX. Trong LLSX, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu. Đối với nước ta, ưu thế của nguồn lực con người đã được khẳng định (thông minh, sáng tạo, cần cù và khéo léo…).

Nhưng trước những yêu cầu mới, bối cảnh mới, cơ chế mới, nguồn lực đó đang bộc lộ những hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động xã hội (tác phong của người tiểu nông, kỷ luật lao động thấp; hạn chế về thể chất và tinh thần…). Một số khuyết điểm trong lao động của người Việt Nam có thể do nguyên nhân khách quan và chủ quan; những yếu tố tác động bên ngoài như (cơ chế, chính sách, thể chế…); những hạn chế chủ quan đến từ sự yếu kém trong phương thức, quy trình và nội dung đào tạo hiện nay. Trần Đắc Hiến (2011) (trong tạp chí Triết học, số 1), có bài viết“Luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của C.Mác và sự vận dụng ở nước ta hiện nay” [87]. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một số nội dung cơ bản trong luận điểm của C.Mác dự báo khoa học trở thành LLSX trực tiếp, nghĩa là khoa học trực tiếp tham gia vào việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.

Tác giả cho rằng, 9 khoa học (biểu hiện ở các tri thức khoa học, thành tựu của khoa học và phát minh khoa học) là sản phẩm sáng tạo của tư duy con người, khi được con người ứng dụng vào hoạt động sản xuất, hay là khi được chuyển hóa, được vật chất hóa thành công cụ sản xuất và được con người sử dụng trong hoạt động lao động để tạo ra của cải vật chất thì nó sẽ trở thành LLSX trực tiếp. Khoa học với tính cách là hình thái ý thức xã hội, một yếu tố của kiến trúc thường tầng thì không thể là LLSX hay thành tố của LLSX được. Khoa học – công nghệ và sản xuất đang có xu hướng nhất thể hóa. Nguyễn Đức Luận (2012) có luận án tiến sỹ triết học “Những tác động của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển lực lượng ở nước ta hiện nay” [99].

Trong luận án này sau khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về LLSX, QHSX và sự tác động của QHSX đối với sự phát triển của LLSX, tác giả phân tích quá trình đổi mới QHSX và tác động của quá trình đó đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Tác giả chia thời kỳ từ 1986 đến nay thành các giai đoạn khác nhau. Giai đoạn từ 1986 đến 1991, QHSX có sự đổi mới trên cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm. Giai đoạn từ 1991 đến 1996, vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế được Đảng ta xác định rõ ràng hơn so với Đại hội VI, phản ánh rõ nét hơn những đặc trưng của LLSX ở nước ta.

Về tổ chức và quản lý sản xuất, Đảng đã xác định hướng cơ bản và lâu dài của cơ chế quản lý kinh tế là: xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Yếu tố cản trở phát triển lực lượng sản xuất ở Hà Nội: Nghiên cứu và giải pháp" đi sâu vào phân tích các rào cản kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất tại Thủ đô. Nó cung cấp cái nhìn toàn diện về những thách thức cụ thể mà Hà Nội đang đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi để tháo gỡ những nút thắt này. Độc giả sẽ có được bức tranh rõ nét về tình hình hiện tại, hiểu rõ hơn về những yếu tố đang tác động tiêu cực đến năng suất và khả năng cạnh tranh của Hà Nội.

Để hiểu rõ hơn về các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bạn có thể tham khảo luận văn: "Luận văn một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xi măng la hiên". Bên cạnh đó, luận văn "Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao quản lý chi phí sản xuất kinh doanh tại công ty tnhh một thành viên khai thác thủy lợi thái nguyên" sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các biện pháp quản lý chi phí trong sản xuất. Nếu bạn quan tâm đến yếu tố văn hóa doanh nghiệp trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh, luận văn "Luận văn thạc sĩ khoa học quản lý phát triển văn hóa doanh nghiệp để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần acc thăng long" sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích.