Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.Các công trình nghiên cứu lý luận về lực lượng sản xuất và các yếu tố cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Tình hình nghiên cứu trong nước Lý luận về lực lượng sản xuất và những yếu tố tác động đến sự phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề được nghiên cứu trong rất nhiều công trình, vì đó là vấn đề cơ bản của triết học xã hội. Dưới đây là tóm tắt nội dung của những công trình nghiên cứu chủ yếu gần đây ở Việt Nam về vấn đề này. Nguyễn Thị Lan Hương (2006), (Tạp chí Triết học, số 9, có bài viết “Tác động của cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin đến lực lượng sản xuất – nhìn từ góc độ triết học” [86, tr. Trong bài viết này, tác giả đã luận giải thực chất của cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin, trên cơ sở đó, phân tích tác động của nó đến lực lượng sản xuất trong nền kinh tế hiện đại.
Theo tác giả, cách mạng thông tin là yếu tố đóng vai trò thúc đẩy việc biến tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (tạo dựng kinh tế tri thức, phát huy vai trò ngày càng cao của tri thức, làm cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế). Công nghệ thông tin đóng vai trò là công nghệ chìa khóa trong hệ thống các công nghệ cao, làm thành trụ cột của nền kinh tế tri thức gồm: công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin. Dưới tác động của Internets, tri thức ngày càng mang tính xã hội hóa cao độ, tính quốc tế hóa và đại chúng hóa của Internets đang làm giảm sự độc quyền về tri thức; ngày nay tri thức không còn là độc quyền sở hữu của các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kỹ thuật hay những ông chủ tư bản. Khi đã được xã hội hóa nhờ công nghệ thông tin, tri thức được phổ biến tới đông đảo quần chúng cả về quy mô, tốc độ và nhờ đó, thúc đẩy việc đưa các phát minh khoa học, các sáng chế công nghệ vào quá trình sản xuất một cách nhanh nhất; khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản xuất đang không ngừng được rút ngắn một cách tối đa.
Chính điều đó đang tạo ra động lực cho LLSX phát triển trên quy mô quốc tế, thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa. Công nghệ thông tin hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến các yếu tố của LLSX: tạo ra những biến đổi to lớn trong phân công lao động xã hội, làm thay đổi cơ cấu lao động, làm biến đổi nội dung và tính chất của lao động. Cách 7 mạng công nghệ thông tin đến sự phát triển của LLSX, làm thay đổi các yếu tố cấu thành LLSX; phân tích làm rõ tác động của công nghệ thông tin đến các yếu tố của LLSX, trước hết là tạo ra những biến đổi to lớn trong phân công lao động xã hội theo hướng tăng lao động trí óc và giảm lao động chân tay; làm xuất hiện một dạng lao động mới – lao động thông tin. Lao động thông tin là sản xuất, xử lý, trao đổi thông tin, cung cấp những cơ sở cho việc ra quyết định.
Phân công lao động trong nền kinh tế mới không phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, ngành nghề được đào tạo, nguồn lao động dồi dào hay lực lượng tư bản như trước đây, mà ngày càng dựa nhiều vào lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức. Cùng với sự xuất hiện của lao động thông tin, cơ cấu ngành nghề cũng biến đổi nhanh chóng. Số lao động liên quan đến thông tin và xử lý thông tin tăng nhanh (đặc biệt ở lĩnh vực máy tính, nghiên cứu, triển khai, phân tích, đo lường, giáo dục – đào tạo) tăng nhanh. Cơ cấu lao động biến đổi theo hướng tăng đội ngũ chất xám.
Cách mạng công nghệ thông tin đã góp phần làm biến đổi cả nội dung và tính chất của lao động. Về nội dung, lao động đang chuyển dần từ lao động thủ công, lao động cơ khí sang lao động thông tin, lao động trí tuệ. Về tính chất, lao động đang biến đổi theo hướng ngày càng mang tính chất xã hội hóa sâu sắc, thể hiện ở việc tổ chức sản xuất trực tiếp giữa các đơn vị sản xuất diễn ra trên một quy mô lớn với sự phân công lao động vừa đảm bảo khả năng chuyên môn hóa, vừa có khả năng phi chuyên môn hóa một cách rộng rãi. Công nghệ thông tin là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế.
Về kỹ thuật, nhờ những phát minh của công nghệ thông tin như bộ vi xử lý, vệ tinh viễn thông, cáp quang, đặt biệt là internet đã kết nối thế giới nhanh chóng và chặt chẽ hơn. Toàn cầu hóa ngày nay, ngoài việc dựa trên cơ sở Internet và thương mại điện tử, còn dựa trên nền tảng của sản xuất với sự chuyên môn hóa và phi chuyên môn hóa cao độ. Chất lượng hàng hóa ngày nay mang quy chuẩn quốc tế, thể hiện qua các ISO. Đó là một yêu cầu nhưng cũng là một thực tế cho thấy tính quốc tế hóa, toàn cầu hóa cao độ của sản phẩm sản xuất.
Nguyễn Hữu Khiển (2009) (trong Tạp chí Triết học, số 3) có bài“Học thuyết Mác và vấn đề hoàn thiện các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”[95]. Trong bài viết này, tác giả cho rằng, với phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ khái quát đến các yếu tố của sự vật, hiện tượng, C.Mác đã kế thừa các học 8 thuyết xã hội trước đó và khẳng định rằng phương thức sản xuất (PTSX) là yếu tố quan trọng và quyết định nhất, là tiêu chí cơ bản thể hiện trình độ của tiến bộ xã hội, phân biệt các chế độ xã hội khác nhau. Với phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, bằng những sự kiện của lịch sử trong sản xuất xã hội và các quá trình xã hội khác, chúng ta có thể làm sáng tỏ thêm rằng mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX quyết định sự phát triển của các PTSX, quyết định sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử. Cũng theo tác giả, triết học Mác coi LLSX là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố cấu thành PTSX xã hội, quyết định xu hướng, tốc độ, nhịp độ vận động của các QHSX; đến nay quan điểm đó vẫn còn nguyên giá trị.
Khi vận dụng quan điểm của C.Mác về LLSX chúng ta cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: (1) Nhận thức đúng đắn quan điểm của C.Lênin; (2) Không máy móc, giáo điều; học thuyết Mác cần được vận dụng một cách sáng tạo sao cho có thể thích ứng với một xã hội cụ thể, một quốc gia, dân tộc cụ thể…(3) Vận dụng sáng tạo học thuyết Mác vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể sao cho có thể hướng tới việc phát huy cao nhất các yếu tố vốn có, các yếu tố mới sáng tạo, các nguồn lực của đất nước và dân tộc. (4) Cần xác định rõ vị trí và vai trò của LLSX trong xã hội, cũng như vị trí vai trò của từng yếu tố cấu thành LLSX. Trong LLSX, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu. Đối với nước ta, ưu thế của nguồn lực con người đã được khẳng định (thông minh, sáng tạo, cần cù và khéo léo…).
Nhưng trước những yêu cầu mới, bối cảnh mới, cơ chế mới, nguồn lực đó đang bộc lộ những hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động xã hội (tác phong của người tiểu nông, kỷ luật lao động thấp; hạn chế về thể chất và tinh thần…). Một số khuyết điểm trong lao động của người Việt Nam có thể do nguyên nhân khách quan và chủ quan; những yếu tố tác động bên ngoài như (cơ chế, chính sách, thể chế…); những hạn chế chủ quan đến từ sự yếu kém trong phương thức, quy trình và nội dung đào tạo hiện nay. Trần Đắc Hiến (2011) (trong tạp chí Triết học, số 1), có bài viết“Luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của C.Mác và sự vận dụng ở nước ta hiện nay” [87]. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một số nội dung cơ bản trong luận điểm của C.Mác dự báo khoa học trở thành LLSX trực tiếp, nghĩa là khoa học trực tiếp tham gia vào việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
Tác giả cho rằng, 9 khoa học (biểu hiện ở các tri thức khoa học, thành tựu của khoa học và phát minh khoa học) là sản phẩm sáng tạo của tư duy con người, khi được con người ứng dụng vào hoạt động sản xuất, hay là khi được chuyển hóa, được vật chất hóa thành công cụ sản xuất và được con người sử dụng trong hoạt động lao động để tạo ra của cải vật chất thì nó sẽ trở thành LLSX trực tiếp. Khoa học với tính cách là hình thái ý thức xã hội, một yếu tố của kiến trúc thường tầng thì không thể là LLSX hay thành tố của LLSX được. Khoa học – công nghệ và sản xuất đang có xu hướng nhất thể hóa. Nguyễn Đức Luận (2012) có luận án tiến sỹ triết học “Những tác động của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển lực lượng ở nước ta hiện nay” [99].
Trong luận án này sau khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về LLSX, QHSX và sự tác động của QHSX đối với sự phát triển của LLSX, tác giả phân tích quá trình đổi mới QHSX và tác động của quá trình đó đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Tác giả chia thời kỳ từ 1986 đến nay thành các giai đoạn khác nhau. Giai đoạn từ 1986 đến 1991, QHSX có sự đổi mới trên cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm. Giai đoạn từ 1991 đến 1996, vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế được Đảng ta xác định rõ ràng hơn so với Đại hội VI, phản ánh rõ nét hơn những đặc trưng của LLSX ở nước ta.
Về tổ chức và quản lý sản xuất, Đảng đã xác định hướng cơ bản và lâu dài của cơ chế quản lý kinh tế là: xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.