CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CÓ LIÊN QUAN 1. Sự phát triển của ngành dệt may Ngành công nghiệp dệt may là một ngành có lịch sử phát triển lâu đời ở nước ta. Ngành dệt may đã nhen nhóm xuất hiện vào thế kỷ thứ XII với việc hình thành các vùng trồng dâu nuôi tằm ở vùng châu thổ sông Hồng, trồng bông ở các vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam và một số tỉnh như Ninh Thuận, Đồng Nai.
Đến năm 1889, khu công nghiệp dệt Nam Định được người Pháp tiến hành xây dựng đã đánh dấu sự phát triển chính thức của ngành công nghiệp dệt tại Việt Nam. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ hơn với sự trang bị công nghệ máy móc khá hiện đại của Châu Âu ở miền Nam và công nghệ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu ở miền Bắc. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, công nghiệp dệt may Việt Nam tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp ở miền nam và đầu tư một số nhà máy có quy mô khác như Sợi Hà Nội, Sợi Vinh, Sợi Huế, Sợi Nha Trang, Dệt kim Hoàng Thị Loan. theo thời gian ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu phát triển các ngành sản xuất công nghiệp của Việt Nam.
Năm 1990, sự tan vỡ của khu vực kinh tế Đông Âu đã ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu của dệt may Việt Nam và đã đánh dấu sự thay đổi về chất của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của dệt may nói riêng. Với lợi thế về lao động cùng các chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam., ngành dệt may Việt Nam đã có bước phát 5 triển khá nhanh cả về chất và lượng tạo được vị thế trên cả thị trường trong và ngoài nước. Dệt may hiện đang sử dụng gần 5% lao động toàn quốc (hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp), đóng góp 8% giá trị sản xuất công nghiệp chế biến, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ 2 (sau xuất khẩu dầu thô) và đóng góp hơn 16% trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước [13] Trong hơn 10 năm qua, xuất khẩu dệt may đã có những phát triển vượt bậc, phát triển với tốc độ bình quân ở mức 2 con số, và trở thành một trong những ngành kinh tế xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may không ngừng được gia tăng qua các năm.
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này mới chỉ dừng ở 3,6 tỷ USD; thì sang năm 2004 đạt 4,3 tỷ USD. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 7,8 tỷ USD và ngành dệt may Việt Nam đứng thứ 9 trong nhóm 10 nước dẫn đầu xuất khẩu về hàng dệt may. Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 9,1 tỷ USD gấp 2,5 lần kim ngạch xuất khẩu năm 2003. Thông tin về giá trị sản xuất và mục tiêu toàn ngành dệt may được thể hiện trong bảng 1.1: Giá trị sản xuất một số mặt hàng ngành dệt may Năm 2000 2005 2006 2007 2008 Sản phẩm Sợi (1000 tấn) 129,9 259,2 268,6 384,9 481,2 Vải (triệu m2) 356,4 560,8 570,3 700,4 770,5 Quần áo may sẵn (triệu sp) 337,0 1.323,3 Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2008 Bảng 1.2: Mục tiêu toàn ngành dệt may đến năm 2020 Giai đoạn 2008 - Giai đoạn 2011 - Tốc độ tăng trưởng 2010 2020 - Tăng trưởng sản xuất hàng năm 16 - 18% 12 - 14% - Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm 20% 15% 6 Với các chỉ tiêu chủ yếu: Mục tiêu toàn ngành đến Chỉ tiêu Đơn vị tính 2010 2015 2020 1.
Doanh thu triệu USD 14. Xuất khẩu triệu USD 12. Sử dụng lao động nghìn người 2. Tỷ lệ nội địa hóa % 50 60 70 5.
Sản phẩm chính: - Bông xơ 1000 tấn 20 40 60 - Xơ, sợi tổng hợp 1000 tấn 120 210 300 - Sợi các loại 1000 tấn 350 500 650 - Vải triệu m2 1.000 - Sản phẩm may triệu SP 1.000 Nguồn: Quyết định 36/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 1. Tình hình sử dụng nguyên liệu, năng lượng, nước Theo số liệu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, tính đến 31/12/2008 cả nước có 1.985 doanh nghiệp hàng năm tiêu thụ một lượng lớn năng lượng, nhiên liệu, nước và hàng trăm nghìn tấn bông xơ các loại. Tình hình sử dụng nguyên liệu: Nguyên liệu chính được sử dụng bao gồm: bông và xơ, hiện nay nguồn cung cấp bông và xơ của Việt Nam hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 7- 10% nhu cầu của ngành [13]: - Bông, len, tơ tằm là những nguyên liệu có nguồn gốc thiên nhiên, trong đó bông chiếm tỷ lệ lớn nhất, hàng năm ngành dệt phải dùng đến hàng chục nghìn tấn bông. - Xơ và sợi tổng hợp: bao gồm các loại sợi Pe, Pa.
trong đó các loại xơ sợi Polyester chiếm tỷ lệ lớn nhất. 7 Nguyên liệu phụ: bao gồm các loại hoá chất, chất trợ và các loại thuốc nhuộm. Trong đó lượng hoá chất, chất trợ và thuốc nhuộm nhập ngoại chiếm khoảng 90%. Trong kết cấu giá thành sản phẩm dệt nguyên liệu chiếm từ 55- 70%.
Tình hình sử dụng năng lượng: Năng lượng: Ngành dệt may sử dụng chủ yếu là điện năng cho máy móc, thiết bị công nghệ, điều không thông gió và chiếu sáng. Nhiên liệu: Ngành dệt may thường sử dụng 2 loại nhiên liệu cho lò hơi là than đá hoặc dầu FO và xăng dầu cho phương tiện vận tải, nâng hạ, bảo trì. Gần đây đã bắt đầu xuất hiện một số thiết bị sử dụng khí Gas. Tình hình sử dụng nước: Nước được sử dụng trong ngành công nghiệp dệt may rất lớn, đặc biệt cho công nghệ nhuộm và hoàn tất, Số liệu thống kê của các doanh nghiệp cho thấy định mức sử dụng nước cho 1 tấn sản phẩm của mỗi doanh nghiệp rất khác nhau, sự khác nhau này phụ thuộc vào từng mặt hàng, từng thiết bị, công nghệ sử dụng.
Sự thiếu hợp lý trong sử dụng dẫn đến lãng phí nước là hiện tượng rất phổ biến trong các doanh nghiệp dệt may. Các chất thải và ảnh hưởng của nó tới môi trường 1. Khí thải Mặc dù công nghiệp dệt may là ngành gây ô nhiễm không khí thứ yếu so với các ngành công nghiệp khác nhưng khí thải đã được xem như là vấn đề ô nhiễm lớn thứ hai sau nước thải. Khí thải của ngành công nghiệp dệt may được phát thải từ một số nguồn sau: - Từ lò hơi, hiện nay ngành dệt may sử dụng các loại lò hơi được đốt từ nhiên liệu là than, dầu FO, dầu diezen, xăng.
Khí thải của lò hơi phát thải một lượng lớn vào môi trường với diện rộng, các chất độc hại hầu như chưa được 8 xử lý. Những lò hơi chạy bằng than (tập trung ở khu vực phía Bắc) mới chỉ xử lý được một phần bụi than. - Khí thải trong công đoạn công nghệ thường chứa các loại bụi bông, các loại hơi hoá chất. Bụi bông được tạo thành trong công đoạn kéo sợi, dệt vải, may có thể gây ra cho người lao động những bệnh liên quan đến đường hô hấp.
Theo các số liệu đo được, thông thường, nồng độ bụi ở công đoạn kéo sợi từ 1,1 - 3,44 mg/m3; ở công đoạn dệt từ 1,16 - 1,5 mg/m 3; ở công đoạn may từ 0,93 - 1,15 mg/m3 [13]. Các quá trình phủ bề mặt ở nhiệt độ cao, sấy khô và xử lý nhiệt độ cao; lưu giữ hàng hoá, hoá chất cũng phát thải ra các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs). - Các môi chất lạnh lạnh như amoniac, CFC. được sử dụng trong các thiết bị làm lạnh và điều hoà trung tâm ở các công nghệ kéo sợi, công nghệ dệt và trong các dây chuyền may.
Do thiết bị đã cũ nên trong quá trình vận hành và bảo dưỡng lượng môi chất lạnh rò rỉ tới 15-20% [13].3: Nguồn phát sinh khí thải và chất ô nhiễm đáng quan tâm trong ngành dệt [9] Công đoạn Các nguồn phát thải Các chất ô nhiễm Sản xuất năng lượng Phát thải từ lò hơi Các hạt lơ lửng, SOx, NOx Phủ bề mặt, sấy và xử lý Phát thải từ các lò nhiệt Các thành phần hơi hữu nhiệt độ cao độ cao cơ bay hơi (VOCs) Lưu giữ hoá chất Phát thải từ các thùng VOCs chứa hàng hoá và hoá chất Xử lý nước thải Phát thải từ các bể và VOCs, các khí độc hại thiết bị xử lý Các chất khí CO2, SOx , NOx, tro, muội than và các chất hữu cơ bay hơi khác khi phát thải ra môi trường ngoài việc ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, hệ sinh thái có thể gây hiệu ứng nhà kính, làm trái đất nóng lên và gây ra các cơn mưa axit, các biến đổi về khí hậu, thời tiết trên trái đất. Do ngành 9 công nghiệp dệt may sử dụng rất nhiều loại hoá chất và sản xuất ra nhiều sản phẩm khác nhau nên việc xác định tính đặc thù và quản lý ô nhiễm khí thải là một nhiệm vụ đầy thách thức. Nước thải Nước thải là nguồn gây ô nhiễm chính của ngành công nghiệp dệt may, mức độ ô nhiễm phụ thuộc rất lớn vào loại và lượng hoá chất sử dụng, vào kết cấu mặt hàng sản xuất (tẩy trắng, nhuộm, in hoa.), vào tỷ lệ sử dụng sợi tổng hợp, vào loại hình công nghệ sản xuất (gián đoạn, liên tục hay bán liên tục), vào đặc tính máy móc thiết bị sử dụng. Nước thải của ngành dệt nhuộm có chứa các loại hoá chất, thuốc nhuộm không tận trích được của các công đoạn hồ sợi, tẩy và nhuộm vải, các loại dầu mỡ, các loại bông xơ.
Theo số liệu thống kê toàn ngành dệt may thải ra môi trường khoảng 20 -30 triệu m3 nước thải/năm. Trong đó mới có khoảng 10% tổng lượng nước thải đã qua xử lý, số còn lại đều thải thẳng ra cống thoát hoặc mương tiêu thoát. Qua theo dõi các số liệu đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của các doanh nghiệp cho thấy nước thải chưa qua xử lý của ngành dệt may đều vượt quá các tiêu chuẩn môi trường với các chỉ tiêu pH, COD, BOD5, nồng độ các loại muối, các loại thuốc nhuộm, chất rắn lơ lửng.[14] Các nguồn gây ô nhiễm nước thải quan trọng do các xưởng nhuộm được trình bày trong bảng 1.