Đặt vấn đề Việt Nam được xác định là một trong tám nước cội nguồn của cây chè, có điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển và cho chất lượng cao. Hiện nay sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt tại 118 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “Che Viet” đã được đăng ký và bảo hộ tại 77 thị trường quốc gia và khu vực. Việt Nam đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè. Chè (trà) là thức uống ngày càng được ưa chuộng trên thế giới vì các giá trị dinh dưỡng có trong thành phần của búp chè (như là amino acid, vitamin, alkaloid và polysaccharide…) được nghiên cứu là có lợi cho sức khỏe.
Trà còn được coi là thực phẩm chức năng có tác dụng giảm cholesterol, chống lại sự phát triển của các tế bào ung thư, hỗ trợ giảm cân… Trong quá trình phát triển, chè đã khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là cây trồng chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo, thậm chí còn giúp người dân vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao làm giàu. Và cây chè còn giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc, cải tạo đất, tăng độ phì từ đó góp phần bảo vệ môi trường. Vì thế đã từ lâu, cây chè được xác định là thế mạnh của Thái Nguyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được vấn đề việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cuộc sống người dân. Bên cạnh đó sản phẩm chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng.
Sau hơn 10 năm thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ của tỉnh Thái Nguyên cho sản xuất chè đã tạo nên sự chuyển biến rõ rệt từ khâu giống, kỹ thuật chăm sóc, chế biến từ đó chất lượng chè đã được nâng lên. Diện tích chè toàn thành phố liên tục được mở rộng, năm 2013 diện tích chè là 18.600 ha, c 2 năm 2016 là trên 21 nghìn ha, tăng 1,12 lần so với năm 2013. Giai đoạn 2016- 2020, dự kiến Thái Nguyên sẽ xây dựng các mô hình sản xuất chè an toàn tại các địa phương là vùng chè trọng điểm của tỉnh như Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phúc Xuân, Tân Cương. Tuy nhiên sản xuất chè hiện nay đang có những bất cập.
Đó là, do người sản xuất chè nhận thức chưa đầy đủ, đã và đang sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Chính điều đó không những không làm tăng hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một dư lượng lớn các chất hóa học tồn dư trong đất; nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè ở quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chè đạt chất lượng ngày một cao. Để nghiên cứu tình trạng trên và đưa ra các giải pháp phát triển mô hình sản xuất chè an toàn tại Thái Nguyên, nên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển mô hình sản xuất chè an toàn tại xã Phúc Xuân - Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được thực trạng trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn, từ đó đưa ra được những giải pháp để phát triển mô hình sản xuất chè an toàn địa bàn xã Phúc Xuân - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được thực trạng sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại địa bàn xã Phúc Xuân - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên. - Phân tích được các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè an toàn tại địa bàn xã Phúc Xuân - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên.
c 3 - Đề xuất được giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất chè an toàn góp phần đẩy mạnh phát triển bền vững ngành chè Thái Nguyên theo hướng thân thiện với môi trường. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Quá trình thực hiện đề tài là cơ hội để củng cố, áp dụng kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn, đồng thời nâng cao kiến thức, năng lực và kỹ năng nghiên cứu khoa học cho bản thân. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nhận thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển mô hình sản xuất và tiêu thụ chè an toàn.
- Làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến phát triển mô hình sản xuất chè an toàn c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm cơ bản về chè 2. Khái niệm về chè truyền thống (sản xuất chè thông thường) Chè truyền thống là chè được chăm sóc theo kinh nghiệm truyền thống của người trồng chè, không áp đặt các hạn chế trong việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học nhằm đạt năng suất và sản lượng cao.
Nói cách khác là sản xuất chè không áp dụng quy định của sản xuất chè hữu cơ hoặc sản xuất chè an toàn. Khái niệm về chè an toàn Chè an toàn được hiểu là sản phẩm chè được tạo ra trong quá trình sản xuất thông thường nhưng được kiểm soát và đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Sản phẩm đạt các chỉ tiêu như: Chất lượng tốt, dư lượng hoá chất độc hại, hàm lượng kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại trong sản phẩm thấp hơn ngưỡng cho phép. Ngày 18/4/2002 Bộ y tế đã ban hành quyết định về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm số 1329/2002/QĐ-BYT với 112 chỉ tiêu được kiểm tra thường xuyên, trong đó quy định 32 chỉ tiêu về cảm quan và thành phần vô cơ, 26 chỉ tiêu về hàm lượng các chất hữu cơ, 33 chỉ tiêu về hoá chất bảo vệ thực vật, 17 chỉ tiêu về khử trùng và sản phẩm phụ, 2 chỉ tiêu về mức độ nhiễm xạ, 2 chỉ tiêu sinh vật.
Ngoài ra theo quyết định số 867/1998/QĐ-BYT ngày 4/4/1998 về tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực thực phẩm đã quy định hàm lượng kim loại nặng cho phép trong chè và các thực phẩm.1: Tiêu chuẩn cho phép của hàm lượng kim loại nặng trong chè Hàm lượng kim loại nặng cho phép (mg/kg) Tên thực phẩm As Pb Cu Sn Zn Hg Cd Sb Chè 1 2 150 40 40 0. Khái niệm về chè hữu cơ Chè hữu cơ là chè được sản xuất theo phương thức nông nghiệp hữu cơ. Sản phẩm được tạo ra bằng phương pháp quản lý và sản xuất đặc biệt trong đó không được phép sử dụng các hoá chất tổng hợp (kể cả thuốc trừ sâu, phân bón hoá học và chất kích thích sinh trưởng) và chú trọng đến việc bảo vệ môi trường. Các tiêu chuẩn và quy định để đảm bảo các sản phẩm chè được công nhận là chè hữu cơ được công ty Liên kết sinh thái (Ecolink) đưa ra như sau: 1.
Cấm sử dụng các loại phân bón tổng hợp vô cơ 2. Cấm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật. Cấm sử dụng hoóc môn tổng hợp (thuốc kích thích). Các thiết bị đã dùng trong canh tác truyền thống không được sử dụng trong canh tác hữu cơ.
Các thiết bị đã dùng trong canh tác truyền thống phải rửa sạch trước khi dùng. Người nông dân phải ghi chép nguồn gốc của tất cả vật tư đầu vào. Cấm sản xuất song song: Các loại cây trồng trong nương hữu cơ phải khác với nương canh tác truyền thống. Phải có vùng đệm ngăn cách ít nhất là 2m.
Nếu ruộng bên cạnh dung các thuốc bị cấm trong canh tác hữu cơ thì ruộng hữu cơ phải có vùng đệm để tránh xâm nhiễm các chất hoá học. Phải trồng cây để ngăn cảnh sự ô nhiễm khi ruộng bên cạnh phun thuốc hoá học. Cây trồng ở vùng đệm bắt buộc phải khác với cây chè canh tác hữu cơ. Nếu có nguy cơ ô nhiễm từ nguồn nước thì phải có bờ đất hoặc mương rãnh để ngăn sự ô nhiễm chảy qua.
Ngăn cấm việc phá rừng nguyên sinh để canh tác chè hữu cơ. Phải có giai đoạn chuyển đổi tối thiểu là 24 tháng từ khi bắt đầu sản xuất chè hữu cơ đến khi được công nhận. Cấm sử dụng vật tư đầu vào chứa sản phẩm biến đổi gen. Trong điều kiện cho phép, cần sử dụng hạt giống từ các nương chè truyền thống để trồng cho các nương chè hữu cơ.
VD: Hạt chè được lấy ở các nương chè đã được cấp giấy chứng nhận hữu cơ. Cấm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý hạt giống trước khi gieo. Phân bón hữu cơ nên bao gồm nhiều loại nguyên liệu khác nhau như phân ủ, phân chuồng hoại mục, phân vi sinh và chất khoáng khác từ nguồn tự nhiên. Cấm dùng phân bắc (phân người).
Chỉ sử dụng phân gia cầm khi chăn thả tự nhiên. Phải có các biện pháp ngăn ngừa xói mòn đất bề mặt và tình trạng nhiễm mặn. Dụng cụ vận chuyển, đựng chè phải sạch và mới. Kho sử dụng chứa sản phẩm phải đảm bảo vệ sinh.
Có thể sử dụng thuốc trừ sâu sinh học đã được phép lưu hành. Không được phép sử dụng các loại thuốc trừ sâu cấm sử dụng trong kho chứa nông sản. Cấm đốt cành cây và rơm rạ, trừ trường hợp đối với kiểu di canh đất dốc. Được phép sử dụng các chế phẩm thực vật đã phê chuẩn như: Các thuốc thảo mộc tự chế từ lá cơi, rễ xoan, tỏi, ớt… để phòng trừ sâu bệnh.
Các tiêu chuẩn được áp dụng trong suốt quá trình sản xuất, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Khái niệm sản xuất Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu vực: - Khu vực một của nền kinh tế: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản. - Khu vực hai của nền kinh tế: Khai thác mỏ, Công nghiệp chế tạo (công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng), Xây dựng.
- Khu vực ba của nền kinh tế, hay Khu vực dịch vụ. Khái niệm tiêu thụ Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.