CHƯƠNG 1 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1.1 Cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1.1 Một số lý thuyết về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.1 Cơ cấu kinh tế. Có nhiều cách hiểu khác nhau về cơ cấu kinh tế, sau đây là một vài ví dụ: -Cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học, phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó, trong một thời gian nhất dinh.21] -Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều vếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa các yếu tố có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng trong những không gian và điều kiện nhất định.14] -Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nên kinh tế: các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng) các ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể.) hay các vùng kinh tế. [17,tr21] Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, K. Marx nhấn mạnh: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất”[20,tr7] Từ những sự phân tích trên, có thể hiểu khái quát về cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là một phạm tru kinh tế, là tổng thể các mối quan hệ chi yếu về chất lượng và về số lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xudt trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế“xã hội nhất định, vào một khoảng thời gian nhất định.2 Chuyển dich cơ cấu kinh tế * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khi xem xét khái niệm về cơ cấu kinh tế, chúng ta đã giả định cơ cấu kinh tế trong trạng thái tĩnh.
Tuy nhiên trên thực tế, cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế quốc dân hay của một khu vực luôn luôn vận động. Không cần có sự thúc đẩy của con người thì cơ cấu kinh tế cũng có sự dịch chuyển theo những quy luật nhất định. Sự tác động của con người là để thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và theo hướng có lựa chọn từ trước nhằm đạt mục tiêu đã định. Theo truyền thống, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra một cách tuần tự từ cơ cấu đơn giản đến cơ cấu kinh tế phức tạp hơn, từ cơ cấu kinh tế có trình độ thấp đến cơ cấu kinh tế có trình độ cao hơn, từ cơ cấu kinh tế tự cung tự cấp đến cơ cấu kinh tế của sản xuất hàng hoá vv.Tuy vậy, trong thời kỳ công nghiệp hoá, các nước có thể không đi theo con đường truyền thống tuần tự mà thực hiện những bước nhảy vọt, bỏ qua các giai đoạn thấp để chuyển lên các giai đoạn cao hơn.
Điều kiện để thực hiện bước nhảy vọt là phải hội tụ đầy đủ các yếu tố về vốn, công nghệ, thị trường và lao động. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi mối quan hệ về lượng và chất giữa các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể nền kinh tế. Quá trình này tuân 9 theo qui luật “lượng đổi thì chất đổi”. Mục tiêu của sự chuyển dịch là đạt được sự hài hoà, hợp lý giữa các bộ phận trong chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế quốc dân hay của khu vực nào đó.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung rất đa dạng và phong phú, có tác động phức tạp nhiều chiều. Có thể khái quát thành ba nhóm yếu tố. Nhóm vếu tố thứ nhất: Hay còn gọi là nhóm địa lý - tự nhiên như tài nguyên, khoáng sản, nguồn nước, năng lượng khí hậu. Quá trình sản xuất chính là quá trình chiếm hữu tự nhiên, nên quá trình đó cũng luôn chịu sự ảnh hưởng của chính những điều kiện tự nhiên đó.
Thiên nhiên là điều kiện chung cho sản xuất đồng thời như là những tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, ảnh hưởng của tự nhiên tới sản xuất và tiêu dùng qua đó tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tất yếu. Ngày nay, nền sản xuất hiện đại có thể giúp con người giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhưng nền sản xuất xã hội thì vẫn gắn chặt vào điều kiện tự nhiên. Thực tế phát triển kinh tế trên thế giới đã cho thấy sự tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữa điều kiện tự nhiên với phát triển kinh tế và chuyển địch cơ cấu ngành kinh tế, hơn nữa ở những nền sản xuất hiện đại, phát triển cao thì mức độ gắn bó với tự nhiên thông qua nguyên liệu, năng lượng, môi trường sinh thái càng cao. Do mỗi quốc gia, mỗi vùng được hình thành và phát triển trong một không gian xác định khác nhau.
Nếu ở vị trí thuận lợi, nền kinh tế có cơ hội hoà nhập 10 và giao luu tốt với bên ngoài để tiếp thu vốn va công nghệ và ngược lại nếu có vị trí không thuận lợi việc thu hút vốn, công nghệ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Nhóm yéu tố thứ hai: Là nhóm những yếu tố về kinh tế - xã hội bên trong của một nền kinh tế ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế. Trước hết, phải nói đến nhu cầu xã hội, là động cơ tư tưởng. động cơ thúc đẩy bên trong của sản xuất.
Nhu cầu của con người trong xã hội quy định các dạng hoạt động lao động của chính con người cũng như cơ cấu và kết quả của những hoạt động đó. Trong sản xuất hàng hoá, nhu cầu xã hội được phản ánh thông qua thị trường, nhu cầu là một yếu tố chủ quan, nhưng khi được phản ánh thông qua thị trường nó trở thành đòi hỏi khách quan. Cơ cấu kinh tế phải thể hiện gián tiếp nhu cầu thị trường. Như vậy, thị trường đóng vai trò dẫn đắt sản xuất và điều chinh cơ cấu kinh tế.
Nhóm yếu tố thứ ba: Gồm những yếu tố bên ngoài, đó là quan hệ kinh tế đối ngoại và phân công lao động quốc tế. Tính đa dạng của nhu cầu và sự khác nhau trong điều kiện thuận lợi cho sản xuất ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau đòi hỏi phải có sự trao đổi kết quả hoạt động sản xuất với nhau tuỳ theo mức độ và phạm vi khác nhau. Sự tham gia vào phân công lao động quốc tế dưới nhiều hình thức sẽ gia tăng sự thích ứng và phù hợp về cơ cấu của nền kinh tế với bên ngoài. Những quốc gia nhỏ có mức độ phụ thuộc bên ngoài về kinh tế lớn, do nhu cầu của cuộc 11 sống đa dạng nhưng khả năng đa dạng hoá sản xuất thì có hạn do vậy quan hệ kinh tế đối ngoại và phân công lao động quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành cơ cấu kinh tế nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
* Tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải phản ánh sự tác động và phù hợp với các quy luật phát triển khách quan. Vai trò của yếu tố chủ quan là: thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó mà người ta phân tích, đánh giá những xu thế phát triển khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, để tìm ra những phương án thay đổi cơ cấu có hiệu lực cao nhất trong những điều kiện cụ thể của đất nước. Mọi ý định chủ quan, nóng vội hay bảo thủ trong việc tạo ra sự thay đổi cơ cấu thường dẫn đến những tai hoạ không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Bản thân cơ cấu ngành kinh tế mang tính lịch sử và xã hội do vậy nó luôn biến động, gắn với sự phát triển không ngừng của chính bản thân các yếu tố cấu thành nên cơ cấu.
Mỗi một cơ cấu kinh tế đều mang tính lịch sử và xã hội nhất định. Nền kinh tế chỉ phát triển khi giữa những bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những quan hệ cân đối - những tỷ lệ của phân công lao động xã hội. Sự tồn tại yêu cầu chung về số lượng thì có thể chung cho mọi nền sản xuất, nhưng khác nhau về nguyên tắc chung trong nội dung, chất lượng, cách thức thực hiện những tỷ lệ đó. Sự khác nhau đó là do các quy luật kinh tế đặc thù của mỗi phương thức sản xuất, trước hết là quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất ấy quy định.
Ngay trong các hình thái kinh tế - xã hội giống nhau tồn tại ở các nước khác nhau vẫn có sự khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế, do điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Vì vậy, cơ cấu kinh tế luôn luôn biến động, 12 xan với sự biến đổi, phát triển không ngừng của bản thân các yếu tố, bộ phận rong nền kinh tế và của những mối quan hệ giữa chúng. Để làm rõ tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần thiết shai xem xét thêm một số xu hướng chuyển dịch mang tính quy luật dưới đây: - Xu hướng thứ nhất: Cơ cấu kinh tế chuyển từ cơ cấu của nền kinh tế tự nhiên sang cơ cấu kinh tế cua nền sản xuất hàng hoá. Một nền kinh tế có kết cấu giản don sang một nền ‹inh tế có mối liên kết phức tạp va ở trình độ cao hơn.
Day là kết qua của sự ohát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ở trình độ cao. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tận dụng, khai thác lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng này đã được nhiều quốc gia chọn lựa. -Xu hướng thứ hai: Ty trọng giá trị sản xuất va lao động trong công nghiệp và dịch vụ tang lên trong GDP, trong khi đó tỷ trọng giá trị sản xuất và lao động trong nông nghiệp giảm. Nguyên nhân là: Thứ nhất, khi thu nhập tăng, chi tiêu cho hàng hoá thiết yếu như lương thực giảm sẽ giảm trong tương quan với chi tiêu cho các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ.