CHƯƠNG 1 Chương một trình bày những vấn đề cơ bản của đề tài nghiên cứu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục đề tài. Chương này đề cập bao quát những vấn đề cơ bản để làm cơ sở phân tích cụ thể hơn ở các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm Ý định Gerbing và Anderson (1998) cho rằng, ý định là một tình huống tư duy bao gồm kinh nghiệm và hành vi cá nhân cho một mục đích cụ thể hoặc một hành vi nhất định. Khái niệm này cho thấy ý định là cơ sở định hướng đến mục tiêu thông qua việc suy nghĩ kĩ càng trước khi thực hiện một hành vi nào đó.
Còn theo Ajzen (1991) thì cho rằng, ý định được xem là “bao gồm các nhân tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, các nhân tố này cho thấy sự sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Khái niệm này cho rằng ý định là chất xúc tác cho việc đưa ra quyết định của một cá nhân. Mặc dù có nhiều quan điểm, nhìn nhận khác nhau. Nhưng nhìn chung trong các định nghĩa đều cho thấy điểm chung về ý định là sự nhận thức, suy nghĩ kỹ lưỡng của một cá nhân về một vấn đề nào đó trước khi quyết định hoặc thực hiện một hành vi cụ thể.2 Khái niệm khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến Theo Manuel (2006), kinh doanh trực tuyến là một thuật ngữ tương đối mới liên quan đến việc sử dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp để thực hiện hoạt động kinh doanh chính của mình.
Theo Matlay (2004), khởi nghiệp trực tuyến là việc tạo ra một công ty vận hành một phần hoặc toàn bộ trên hệ thống thương mại điện tử. Nhà khởi nghiệp trực tuyến cũng được gọi là nhà khởi nghiệp, họ là những người đi đầu trong việc xây dựng và phát triển một công ty hoạt động trên thị trường Internet (Millman et al., 2009) Tại Việt Nam, theo Nghị định về thương mại điện tử số: 52/2013/NĐ-CP: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Website thương mại điện tử là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa 7 hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày, giới thiệu sản phẩm, cung cứng dịch vụ, thành toán và các dịch vụ sau bán hàng” Tóm lại, khời nghiệp kinh doanh trực tuyến là một loại hình khởi nghiệp mà nhà khởi nghiệp tạo dựng một công ty mà hoạt động kinh doanh của nó thực hiện một phần hay toàn bộ trên nền tảng Internet.2 Các thuyết về ý định lựa chọn 2.1 Thuyết hành vi dự định Lí thuyết hành vi hoạch định hay lí thuyết hành vi có kế hoạch trong tiếng Anh gọi là: Theory of Planned Behavior - TPB. Theo thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991), tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi.
Thuyết hành vi dự định (TPB) được phát triển từ lí thuyết hành vi hợp lí (Ajzen và Fishbein, 1975), lí thuyết này được tạo ra do sự hạn chế của lí thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lí trí. Nhân tố trung tâm trong lí thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Thái độ Chuẩn chủ quan Thái độ Ý định Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.1 Thuyết hành vi dự định – TPB Theo mô hình, gồm có 3 nhân tố tác động đến ý định hành vi. Thái độ: là cảm xúc của một cá nhân về hành vi thực hiện mục tiêu có thể tiêu cực hay tích cực.
Nhận thức kiểm soát hành vi: là việc nhận thức mức độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, phản 8 ánh kinh nghiệm quá khứ cũng như những trở ngại dự đoán trước. Chuẩn chủ quan: là áp lực xã hội nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi.2 Thuyết chấp nhận công nghệ Mô hình TAM chuyên được dùng để giải thích hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ của người dùng. Hai nhân tố cơ bản của mô hình TAM có tác động trực tiếp đến thái độ của người tiêu dùng là sự hữu dụng cảm nhận PU (Perceived usefulness) và sự dễ sử dụng cảm nhận PEOU (Perceived ease of use). PU được hiểu là một người tin rằng việc sử dụng các thiết bị công nghệ sẽ làm tăng hiệu quả hay năng suất làm việc của họ, còn PEOU được hiểu là một người tin rằng sử dụng các thiết bị công nghệ sẽ không cần sự nỗ lực.
Mô hình TAM khảo sát mối liên hệ và ảnh hưởng của các yếu tố nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức sự hữu ích đến thái độ, từ đó ảnh hưởng đến ý định và hành vi trong trong việc chấp nhận công nghệ thông tin của người sử dụng.2 Thuyết chấp nhận công nghệ TAM Nguồn: Davis, F.3 Thuyết nhận thức rủi ro Thuyết nhận thức rủi ro TPR (Theory of Perceivef Risk), Bauer (1960) cho rằng nhận thức rủi ro trong qua trình mua bán trực tuyến bao gồm 2 yếu tố: (1) Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ và (2) Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến). Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm dịch vụ được hiểu là những rủi ro do ảnh hưởng việc chuyển đổi từ người bán trên web đến người mua thực tế (Bauer-1960). Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến được hiểu là những rủi ro xảy ra trong quá trình thanh toán sản phẩm/dịch vụ với những hành động bất hợp pháp như: lộ mật khẩu, lừa 9 nối, không thanh toán nợ đúng hạn Bhimani (1996). Mô hình e-CAM bắt nguồn từ nền tảng lý thuyết của mô hình TAM và Thuyết nhận thức rủi ro (Theory of Perceived Risk - TPR).
Đây là mô hình chuyên dùng để khảo sát các yếu tố bất định rủi ro trong lĩnh vực CNTT nói chung và TMĐT nói riêng. “Nhận thức rủi ro” được hiểu là “người tiêu dùng tin rằng sẽ có rủi ro nếu mua sản phẩm/dịch vụ trực tuyến”. Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ (PRP) Ý định sử dụng (PB) Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến (PRT) Hình 2.3 Mô hình e-CAM Nguồn: Bauer, R.3 Các nghiên cứu có liên quan 2.1 Nghiên cứu trong nước 2.1 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Xuân Hiệp, Trần Hà Thanh, Nguyễn Thị Yến Nhi, 2018) Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại TP.HCM được đề xuất kế thừa từ mô hình nghiên cứu của Lĩnán và cộng sự (2011), Ambad và Damit (2016). Kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra và chứng minh được các yếu tố có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh gồm: Giáo dục kinh doanh (GDKD); Chuẩn chủ quan (CCCQ); Môi trường khởi nghiệp (MTKN); Đặc điểm tính cách (DDTC) và Nhận thức tính khả thi (NTKT).
10 Giáo dục kinh doanh Chuẩn chủ quan Ý định khởi nghiệp Môi trường khởi kinh doanh Đặc điểm tính cách Nhận thức tính khả thi Hình 2.4 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại TPHCM Nguồn: Nguyễn Xuân Hiệp, Trần Hà Thanh, Nguyễn Thị Yến Nhi,2018 2.2 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: nghiên cứu trường hợp sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội( Bùi Thị Thu Loan et al-2018) Khi bắt đầu kinh doanh với bất kì mô hình nào, dù là thành lập doanh nghiệp hay một dự án kinh doanh thì đều mang lại lợi ích và tác động to lớn cho nền kinh tế nước nhà. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm các yếu tố tác động đến ý địnhkhởi nghiệp của giới trẻ (sinh viên) dựa trên dữ liệu khảo sát quy mô mẫu 321 sinh viên. Bao gồm 6 yếu tố: Thái độ; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi; Rủi ro; Cơ hội trải nghiệm; Môi trường giáo dục; Ngành học, giới tính. 6 yếu tố này có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó, yếu tố e ngại rủi ro ảnh hưởng theo chiều tiêu cực và có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất.
11 Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định khởi Nhận thức kiểm soát hành vi nghiệp của sinh viên Rủi ro Cơ hội trải nghiệm Môi trường giáo dục Ngành học, giới tính Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: nghiên cứu trường hợp sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội Nguồn: Bùi Thị thu Loan et al-2018 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ (Nguyễn Văn Định, Lê Thị Mai Hương, Cao Thị Sen - 2021) Nghiên cứu xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường đại học Nam Cần Thơ. Dữ liệu của nghiên cứu thu thập từ kết quả khảo sát 310 sinh viên của trường bao gồm Khoa Kinh Tế và Khoa Kiến Trúc – Xây dựng và Môi Trường. Qua kết qủa nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên từ mô hình đề xuất 6 nhân tố. Nhân tố chuẩn chủ quan không có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Các yếu tố có tác động sắp xếp theo mức độ giảm dần là: (1) Đặc điểm tính cách, (2) Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, (3) Môi trường giáo dục, (4) Nhận thức kiểm soát hành vi, (5) Nguồn vốn. 12 Đặc tính cá nhân Thái độ với hành vi khởi nghiệp Môi trường giáo dục Ý định khởi Sự tự tin nghiệp của về tính sinh viên Nhận thức kiểm soát hành vi Nguồn vốn Hình 2.