CHƯƠNG 1: TỔNG QƯAN VỀ NGHIÊN cứu Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu. CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu Cơ sở lý thuyết về ý định khởi nghiệp, các mô hình nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp, mô hình đề nghị và các giả thuyết nghiên cứu. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu, cách thức thu thập, xử lý dữ liệu, kiểm định mô hình. CHƯƠNG 4: KẾT QƯẢ NGHIÊN cứu Phân tích dữ iiệu, tóm tắt kết quả nghiên cứu thu được.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận chính của nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, hạn chế của nghiên cứu và hướng đề tài tiếp theo. CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cửu Chương này nhằm giới thiệu cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu. Trên cơ sở này, mổ hình nghiên cứu được xây dưng dựa trên các yếu tố tác động đến ỷ định khởi nghiệp của sình viên trường Đại học Lao động - xã hội. Chương này bao gồm 2 phần chính, (ỉ) Cơ sở lý thuyết về ỷ định khởi nghiệp của sinh viên, và (2) xây dựng mô hình nghiên cứu.
Doanh nhân và tinh thần doanh nhân 2. Khái niệm doanh nhân Hiện nay, trên thế giới có các quan điểm về doanh nhân (Entrepreneur) như sau: Một ià, quan điểm nhấn mạnh đến tính sáng tạo, ví dụ theo Bách khoa toàn thư Anh ngữ Collin cho rằng doanh nhân là người tạo ra doanh nghiệp từ hai bàn tay trắng. Ở góc độ này doanh nhân được xem như là người tìm ra những giá trị mới, phải cỏ óc sáng tạo để đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân cũng như xã hội. Doanh nhân là người xây dựng ý tưởng mới, nhận ra cơ hội và biến chúng thành giá trị gia tăng cho xã hội (Heilbrunn, 2010).
Doanh nhân phải nắm bắt những phát minh cơ bản và biến chúng thành những đổi mới kỉnh tế (Schumpeter, 1934 trích dẫn bởi Grundsten, 2004). Schumpeter (1934) trích dẫn bởi Grundstén (2004) nhận định các doanh nhân thúc đầy kinh tế bằng cách tạo ra sự kết hợp các tài nguyên mới trong (1) hình thức mới, (2) một phương thức sản xuất mới, (3) mở rộng thị trường mái, (4) phát hiện ra một nguồn cung cấp nguyên liệu mới, và (5) thực hiện một tổ chức mới. Hai là, quan điểm nhấn mạnh đến hoạt động quản trị, theo trang Merriam - Webster thì cho rằng doanh nhân là người đứng ra tổ chức, quản lý và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, hay nhà kinh tể học người Pháp vào khoảng những năm 1700 mô tả doanh nhân như là một nhà sản xuất đưa ra các quyết định hợp lý cho công ty và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh (Cantillon, 1755 trích dẫn bởi Grundsten, 2004). Với cách nhìn nhận này, doanh nhân được xem là nhà quản trị cấp cao nhất, có quyền quyết định trên mọi hoạt động liên quan đến công ty và họ phải có xu hướng chấp nhận rủi ro, sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Như vậy, doanh nhân sẽ tác động đến các vấn đề nhân sự, kế hoạch kinh doanh, tài chính.và họ cũng chịu sự tác động ngược trở lại. Tóm lại, doanh nhân là một chủ thể trong nền kinh tế. Chính doanh nhân là thành phần chính thúc đẩy nền kinh tế của một đất nước ngày càng phát triển và mang lại việc làm cho người lao động, tăng GDP cho quốc gia. Khái niệm tinh thần doanh nhân Từ xưa, quan niệm về tinh thần doanh nhân (Entrepreneurship) luồn gắn liền với vấn đề đổi mới.
Quá trình một doanh nhân hình thành và phát triển ý tưởng kinh doanh là một quá trình chuyển biến năng động (Henly, 2005). Trong hoạt động kinh doanh, tinh thần doanh nhân chính là việc đứng ra thành lập một tổ chức mới với những ý tưởng mới, cách làm mới để tận dụng những cơ hội kinh doanh trên thị trường và tạo ra lợi nhuận. Không dừng ở đó, tinh thần doanh nhân còn là việc sẵn sàng chấp nhện mọi thử thách và quyết tâm thực hiện việc kinh doanh của bản thân. Theo Frank Knight, tinh thần doanh nhân là việc chấp nhận rủí ro và dám làm (Knight, 1921).
Shanen & Venkataraman (2000) nhận định tinh thần doanh nhân là một quá trình quan trọng để chuyển những kiến thức mới thành sản phẩm và dịch vụ. Cũng cần phân biệt rõ giữa hai thuật ngữ "Entrepreneur" và "Entreprenurship": “Entrepreneur” được định nghĩa là doanh nhân, khi nói đến "Entrepreneur" là nói đến chủ thể con người tham gia vào hoạt động kinh tế trong vai trò là người sáng lập ra doanh nghiệp. Doanh nhân là người thiết lập công ty cho chính mình (Gartner, 1988). Chủ thể ấy có khả năng quản lý, điều hành hoạt động và quyết định mọi việc của doanh nghiệp do mình lập ra.
“Entreprenurship” được định nghĩa là tinh thần doanh nhân, khi đề cập đến “Entreprenurship” là vấn đề mang tính trừu tượng hơn, ý nghĩa tinh thần nhiều hơn. Xây dựng tinh thần doanh nhân là thúc đẩy suy nghĩ của các cá nhân để họ hướng về mục tiêu trở thành doanh nhân. Ở đây chủ thể không là con người mà là tinh thần tạo ra các tổ chức và cũng là chức năng sáng tạo của tổ chức (Gartner, 1988). Tinh thần doanh nhân ỉà một quá trình sáng tạo ỉỉên tục, sáng tạo thúc đẩy sáng tạo.
Ý định khởi nghỉệp (Entrepreneurs! intentions) Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là ý dịnh khởi nghiệp kinh doanh, mô hình trình bày hai mô hình quan trọng trong dự đoán ý định hành vi. Đó là mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) và mô hình thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior) 2. Lý thuyết hành động họp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (của Ajzen và Fishbein, 1975) cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Và hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý dịnh hành vi là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan.
Trong đó, thái độ của một cá nhân đối với hành vi được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả hành vi đó. Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên hay không nên thực hiện hành vi (Ajzen, 1991).1: Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Nguồn: Davis & cộng sự, 1989, trích trong Chutter, 2009) Tóm lại, lý thuyết hành động hợp lý được phát triển để dự đoán và thấu hiểu được những ảnh hưởng của động cơ thúc đẩy lên những hành vi thực sự, và những hành vi thực sự này không phải chịu sự kiểm soát từ ý chí của cá nhân, đây cũng là điểm hạn chế của lý thuyết này. Đồng thời lý thuyết cũng xác định như thế nào, ở đâu để nhắm đến thay đổi hành vi thực sự, và giải thích được hầu hết các hành vi của con người. Lý thuyết hành động hợp lý đã gián tiếp giải thích quá trình hình thành ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên.
Bắt đầu từ niềm tin tốt đẹp với kinh doanh, con người sẽ hướng sự quan tâm của mình đến việc kinh doanh và mong muốn trở thành một doanh nhân, cộng với những tác động từ những người xung quanh như cha mẹ, bạn bè.những tác động này sẽ gián tiếp truyền tải niềm tin hay quan điểm của những người xung quanh lên chủ thể tiếp nhận, cộng với niềm tin và sự quan tâm hình thành từ trước, con người sẽ hình thành lên ý định khởi nghiệp kinh doanh mà theo những phân tích có được của họ là mang lại cho họ những lợi ích cao nhất. Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior) Theo Ajzen (1991) thuyết hành vi dự định TPB ra đời xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát. TPB bổ sung vào mô hình TRA yếu tố “nhận thức kiểm soát hành vi”. Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế không (Ajzen, 1991).
Mối liên hệ được thể hiện như mô hình bên dưới: Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi dự định TPB Suy rộng từ lý thuyết này có thể nhện thấy rằng để hình thành ý định khởi nghiệp kinh doanh, các sinh viên đều đã phải trải qua một quá trình phân tích, đánh giá cẩn thận, kỹ lưỡng các khía cạnh có liên quan đến ý định đó. Khác với lý thuyết hành động hợp lý, ý định không chỉ bị ảnh hưởng bởi các đối tượng xung quanh như cha mẹ, bạn bè.và những nhận thức của bản thân sinh viên. Nhưng ở lý thuyết này để có một quyết định chọn lựa, việc chiến thắng hai yếu tố tác động trên, sinh viên phải chiến thắng cả những ý chí thúc đẩy bên trong. Ý định và ý định khởi nghiệp Ý định (intentions) là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành vi (Krueger, 2003).
Trong một nghiên cứu của mình Ajzen & Fishbein đã phân tích rõ hơn về ý định với các thành phần biểu hiện của nó. Ý định liên quan đến bốn thành phần khác nhau: hành vi (behavior), mục tiêu (target) - vấn đề chủ thể nhắm đến, tình trạng (situation) mà hành vi đang thực hiện, thời điếm (time) là hành vi đang diễn ra (Fishbein & Ajzen, 1975). Để đi đến một hành vi bất kỳ thì cá nhân phải cảm nhận vấn đề đó trước khi thực hiện. Việc cảm nhận này có vai trò quan trọng để quyết định làm hay không làm.
Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai (Krueger, 1993). Ngày nay thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng ý định là một tiền đề của hành vi dự định (ví dụ như việc chuẩn bị lập công ty cho riêng mình) (Krueger & ctg, 2000) và ý định là những dự đoán tốt nhất cho hành vi thực hiện (Luthje & Franke, 2004). Mọi thứ đều bắt đầu từ những ý định cho dù ý định đó có ngớ ngẩn hay một ý định rõ ràng, được chuẩn bị kỹ càng. Sự cố găng nỗ lực, sự quyết tâm, ý chí, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các yếu tố môi trường sẽ tạo nền tảng để vun đắp những ý định.
Những ý định rõ ràng và mạnh mẽ chính là động lực bên trong để khiến con người ta dám thực hiện những gì mình muốn, dám thử thách với những khó khăn, trở ngại. Khởi nghiệp (Entrepreneural) thường được nhiều người hiểu theo nghĩa rộng là khởi sự doanh nghiệp.