Chương 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu 5 Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ban đầu, từ đó chỉ ra được ý nghĩa và đóng góp của đề tài cho hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn thể nền kinh tế nói chung. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về tín dụng, TTTD và các yếu tố ảnh hưởng đến TTTD. Từ đó, đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về vấn đề TTTD của ngân hàng thông qua một vài nghiên cứu trước.
Phương pháp và mô hình nghiên cứu Từ những cơ sở lý thuyết đã nêu ở chương 2, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, cơ sở dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp sẽ được sử dụng. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả trình bày sơ lược về tình hình TTTD của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018. Đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân tích, kiểm định mô hình hồi quy để đưa ra kết luận cuối cùng về ảnh hưởng của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến TTTD của các NHTM Việt Nam. Kết luận và khuyến nghị Chương này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu từ chương 4.
Đồng thời từ kết quả nghiên cứu xác định được, đưa ra những gợi ý, khuyến nghị nhằm đảm bảo góp phần TTTD ổn định, bến vững và an toàn. Ngoài ra, chương này còn nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng sau này. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 2. Tổng quan về tín dụng và tăng trưởng tín dụng 2.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong đời sống kinh tế xã hội thì lĩnh vực tài chính, tiền tệ ngày càng chiếm một vị trí hết sức quan trọng và quyết định việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, vững mạnh; đồng thời tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo khả năng chống đỡ lại những ảnh hưởng tiêu cực do những biến động bất lợi của nền kinh tế thế giới gây ra. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, có những chủ thể thừa vốn, đồng thời cũng có những chủ thế thiếu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó, đã hình thành nên quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội và hoạt động tín dụng ra đời từ đó. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn để đầu tư ngày càng cao, do đó đòi hỏi hệ thống các tổ chức tín dụng cũng phát triển theo, đặc biệt là hệ thống ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường thì Ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính, giữ vai trò chu chuyển vốn từ những chủ thể thừa vốn sang những chủ thể thiếu vốn. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng có tác động quyết định đến sự phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, góp phần quan trọng trong việc phục hồi và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới. Trong đó, NHTM và tín dụng ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng. Vậy NHTM là gì và thế nào là tín dụng ngân hàng? NHTM là loại hình ngân hàng ra đời sớm nhất, gắn liền với sự phát triển của hoạt động ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo Quy định tại điều 4, Luật Các Tổ chức Tín Dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 thì “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. NHTM là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động của NHTM vô cùng đa dạng từ huy động các loại tiền gửi của các chủ thể thừa vốn 7 trong nền kinh tế cho đến việc sử dụng các nguồn vốn huy động được để đầu tư, cho vay đối với các chủ thể thiếu vốn.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với việc phân phối vốn hiệu quả cho nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.Theo như Bùi Diệu Anh (2010) tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Tín dụng được bắt nguồn từ tiếng La Tinh “Credit – Creditum” – tức là sự tin tưởng, tín nhiệm, hay nói theo cách của người Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn. Như vậy, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở có sự hoàn trả một lượng lớn hơn ban đầu. Tóm lại, tín dụng ngân hàng có thể được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.
Nhưng nhìn chung, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong xã hội, trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay đồng thời vừa đóng vai trò là người cho vay. Với vai trò là người đi vay, ngân hàng chuyên thực hiện các nghiệp vụ huy động tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá.Với vai trò là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các tổ chức thiếu vốn trong nền kinh tế để góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa. Tuỳ những tiêu thức khác nhau và căn cứ vào đối tượng được cấp tín dụng, việc cấp tín dụng thường được phân thành các hình thức cho vay khác nhau như sau: Bảng 2.1 Các loại hình cấp tín dụng ngân hàng TT Loại hình cho vay Nội dung A Căn cứ vào mục đích tín dụng Tín dụng sản xuất kinh Tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh 1 doanh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế 8 Tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua 2 Tín dụng tiêu dùng sắm của các cá nhân trong xã hội B Căn cứ vào thời hạn tín dụng Là hình thức tín dụng ngân hàng có thời hạn tối 1 Tín dụng ngắn hạn đa đến 12 tháng Là hình thức tín dụng ngân hàng có thời hạn 2 Tín dụng trung hạn trên 12 tháng đến 60 tháng (5 năm) Là hình thức tín dụng ngân hàng có thời hạn 3 Tín dụng dài hạn trên 05 năm C Căn cứ vào hình thức bảo đảm tín dụng Ngân hàng chỉ cho vay trên cơ sở có sự bảo đảm 1 Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản của người đi vay hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba Ngân hàng cho vay trên cơ sở tín nhiệm, lòng Tín dụng không có bảo tin đối với khách hàng đi vay. Người đi vay 2 đảm không có bất cứ một tài sản nào để bảo đảm cho khoản vay ngoài uy tín của họ D Căn cứ vào hình thức vốn tín dụng Ngân hàng cho vay bằng tiền và người đi vay 1 Tín dụng bằng tiền cũng phải trả nợ bằng tiền Ngân hàng cho vay bằng tài sản và người đi vay 2 Tín dụng bằng tài sản trả nợ bằng tiền (tín dụng thuê mua) E Căn cứ vào phương pháp hoàn trả Người vay hoàn trả dần vốn gốc và lãi theo định 1 Tín dụng trả góp kỳ cho ngân hàng theo thỏa thuận giữa hai bên Người vay hoàn trả toàn bộ vốn một lần đến khi 2 Tín dụng phi trả góp đáo hạn cho ngân hàng 9 Là hình thức cấp tín dụng mà việc thu nợ của Tín dụng hoàn trả theo ngân hàng được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả 3 yêu cầu của người đi vay trên cơ sở khả năng của người vay và trong thời hạn hợp đồng đã thỏa thuận.
F Căn cứ vào tính chất hoàn trả Tín dụng hoàn trả trực 1 Việc trả nợ được thực hiện bởi người vay tiếp Việc trả nợ không được thực hiện trực tiếp bởi Tín dụng hoàn trả gián 2 người vay mà thực hiện gián tiếp thông qua tiếp người thụ lệnh của người vay. Nguồn: Tổng hợp của tác giả 2. Tăng trưởng tín dụng ngân hàng Như chúng ta đều biết, trong hoạt động kinh doanh của mình, mỗi ngân hàng đều đặt ra mục tiêu hàng đầu là làm thế nào để tạo ra lợi nhuận, đảm bảo quỹ thu nhập và lương thưởng cho người lao động. Trong đó, TTTD luôn được đặc biệt quan tâm, vì đây chính là nghiệp vụ quan trọng mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Hàng năm, các ngân hàng đều đưa ra mục tiêu TTTD nhằm đảm bảo mục tiêu kinh doanh của đơn vị, vừa đảm bảo đúng quy định của NHNN. Về mặt bản chất thì TTTD thể hiện sự thay đổi của tổng dư nợ tín dụng (bao gồm cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán) của kỳ hiện tại so với kỳ gốc. Trong đó, bảo lãnh ngân hàng cũng tạo ra thu nhập cho ngân hàng nhưng dưới dạng phí chứ không phải lãi, và nó thuộc về các khoản cam kết ngoại bảng cho nên thường được bỏ qua khi nói đến TTTD ngân hàng. Tóm lại, chỉ tiêu TTTD dùng để đo lường mức độ thay đổi của các khoản cấp tín dụng gồm các khoản cho vay và chiết khấu của kỳ hiện tại so với kỳ gốc.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, dư nợ cho vay được xác định bởi khoản mục ‘‘cho vay khách hàng” trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. TTTD = (Các khoản cấp tín dụng thời điểm t – Các khoản cấp tín dụng thời điểm t-1)/Các khoản cấp tín dụng thời điểm t-1 10 Với công thức trên ta thấy rõ tín dụng ngân hàng tăng trưởng tốt khi tổng dư nợ cấp tín dụng thời điểm t cao hơn so với thời điểm t-1. Ngược lại, nếu tổng dư nợ cấp tín dụng thời điểm t thấp hơn so với thời điểm t-1 thì TTTD của ngân hàng sẽ mang số âm, điều này cho thấy trong năm ngân hàng không thể gia tăng các khoản cấp tín dụng, hay nói cách khác các khoản cho vay ra của ngân hàng không đủ để bù đắp các khoản nợ đến hạn, nên làm cho TTTD của ngân hàng sụt giảm. TTTD là một yếu tố quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng.