Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả Chương 5: Kết luận 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các khái niệm chính 2.1 Thanh toán điện tử (E-Payment) Thanh toán điện tử (E-Payment) là một hệ thống cung cấp các công cụ để thanh toán dịch vụ hoặc hàng hóa được thực hiện trên internet (Gandawati, 2007). Sử dụng hệ thống thanh toán điện tử mang lại nhiều lợi ích cho người thanh toán, người được thanh toán, thương mại điện tử, ngân hàng, các tổ chức và chính phủ. Những lợi ích này có thể dẫn đến các hệ thống thanh toán điện tử phổ biến trên thế giới ( Roy & Sinha, 2014). Hệ thống thanh toán điện tử hiệu quả và đáng tin cậy cho phép thanh toán nhanh hơn, theo dõi tốt hơn, giao dịch minh bạch, giảm thời gian sử dụng, tiết kiệm chi phí và tăng niềm tin giữa người bán và người mua ( Junadiª, 2015).
Sự phát triển và áp dụng công nghệ trong hệ thống thanh toán điện tử liên quan đến các giao dịch tài chính, người dùng đồng hóa và công nghệ thanh toán điện tử chất lượng có xu hướng định hình nhận thức và kỳ vọng của riêng họ ( Hami và Cheng, 2002). Hệ thống thanh toán điện tử hiện nay được sử dụng phổ biến như giao dịch qua ATM, sử dụng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ, thông qua ngân hàng trực tuyến và ngân hàng di động. Thanh toán điện tử cung cấp tiết kiệm chi phí đáng kể khi thanh toán trên giấy tờ ( Premchand và Choudhry, 2015).2 Ví điện tử (E-Wallet) Thanh toán di động là các dịch vụ thanh toán được thực hiện thông qua các thiết bị di động như điện thoại di động, trợ lý kỹ thuật số cá nhân, máy tính bảng, v. Chúng phát sinh do việc triển khai ồ ạt các phương tiện truyền thông di động, mạng không dây, Internet di động và điện thoại di động.
Chúng có thể được định nghĩa là các giao dịch thanh toán được thực hiện không dây (Kraeva, 2013). Một trong những phương thức thanh toán di động phổ biến nhất là ví di động. Đây là một tài khoản điện tử được lưu trữ trên thiết bị di động có thể hoạt động với nhiều sản phẩm và dịch vụ khác nhau của ngân hàng: gửi tiền, thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, phiếu quà tặng, phiếu mua hàng, v. có thể được sử dụng bất cứ lúc 6 nào và bất cứ nơi đâu.
Ví di động có thể được định nghĩa là nơi chứa các công cụ thanh toán khác nhau cung cấp thông tin tài khoản thanh toán. Phương thức này thường sử dụng công nghệ "chạm và đi" để hỗ trợ thanh toán. Và tiêu biểu ở đây chính là ví điện tử Momo. Theo M_Service ( Momo, 2020) Ví điện tử Momo là một nền tảng ví điện tử cho phép người dùng thực hiện các thanh toán, giao dịch trên các thiết bị di động thông minh.
Đóng vai trò là một công cụ hỗ trợ thanh toán trực tuyến nhanh chóng, tiện lợi và an toàn mà không cần tiền mặt hay phải giao dịch trực tiếp, ví điện tử Momo đã góp phần tác động không nhỏ đối với nền kinh tế. Momo cung cấp cho người dùng nhiều tiện ích và hỗ trợ đi kèm cùng với trải nghiệm thanh toán, giao dịch chỉ với vài thao tác chạm tay mọi lúc mọi nơi và những dịch vụ mà ví điện tử Momo mang đến cho người dùng đều miễn phí ví dụ như là thanh toán các hóa đơn trả góp, internet, điện nước hoặc có thể mua vé máy bay, vé xem phim và còn nhiều dịch vụ tiện ích khác.3 Ý định sử dụng dịch vụ Gerbing và Anderson (1988) cho rằng, ý định là một tư duy trong tình huống bao gồm những kinh nghiệm trong hành vi cá nhân cho một mục tiêu cụ thể hoặc một hành vi nhất định. Ở khái niệm này cho thấy ý định hướng đến mục tiêu thông qua việc phân tích suy nghĩ một cách kỹ lưỡng trước khi thực hiện một hành vi nào đó. Theo Ajzen (1991) chỉ ra rằng, ý định được xem là “ gồm nhiều nhân tố động cơ có tác động đến hành vi của mỗi cá nhân, các nhân tố này chỉ ra rằng sự sẵn sàng hoặc nỗ lực mà từng cá nhân sẽ đưa ra để tiến hành hành vi”.
Ý định là sự chuyển động có xu hướng (thiếu) thứ bên trong. Định nghĩa này có nghĩa là hành động này định hướng cho mục tiêu. Trên cơ sở này thì ý định là chất xúc tác cho việc đưa ra quyết định của một cá nhân. Kureger (1993) cho rằng: ”Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai”.
Ngày nay thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng ý định là một tiền đề của hành vi dự định (Kureger và cộng sự, 2000) và ý định là những phán đoán cho dự tính tốt nhất về hành vi sẽ thực hiện. Cùng với sự thay đổi của thời gian và bối cảnh nghiên cứu mới thì Kureger (2003) có thêm một định nghĩa “Ý định là trạng thái cảm nhận ngay trước khi tiến hành 7 một hành vi.” Theo như khái niệm, một người có ý định thực hiện hành vi là người có nhận thức và suy nghĩ rõ ràng về mục đích và phương tiện thực hiện hành vi đó.4 Quyết định sử dụng dịch vụ Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu dùng và cụ thể là quyết định của khách hàng đối với việc mua hay tham gia một sản phẩm dịch vụ nào đó.Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà họ thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu của cá nhân họ. Đề cập đến quyết định mua hoặc tham gia một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, hay hành vi mua/ tham gia, có một số mô hình lý thuyết đã được đề cập trước đây như mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA), mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB). Từ đó có thể thấy, ý định được xác định là động lực ảnh hưởng đến hành vi, ý định mạnh mẽ dẫn đến hành vi mạnh mẽ hơn.
Ý định mua hàng phản ánh dự đoán hoặc kế hoạch hành vi trong tương lai hoặc khả năng về niềm tin và sẽ chuyển thành hành vi mua hàng. Mặc dù Mittal và Kamakura (2001) lập luận rằng, ý định mua hàng không thể dự đoán chính xác, tuy nhiên theo Conner và Armitage (1998) ý định đại diện động cơ của một người phải nỗ lực để thực hiện hành vi. Vì vậy khái niệm Quyết định sử dụng được hiểu như là quyết định mua trong nghiên cứu này.2 Các học thuyết có liên quan 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model-TAM ) Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Davis,1989) là mô hình đã được chấp nhận rộng rãi của cộng đồng nghiên cứu, đã qua kiểm chứng và được phổ biến rộng hơn nữa bởi những nhà nghiên cứu khác, là mô hình nhận được sự tin cậy cao trong việc mô hình hóa chấp nhận công nghệ của người dùng. TAM chủ yếu hướng vào yếu tố gồm: cảm nhận về tính hữu dụng (Perceived Usefulness-PU) và cảm nhận dễ sử dụng (Perceived Ease of Use- PEU).
Cảm nhận dễ sử dụng là mức độ mà người dùng tin vào việc hệ thống được sử dụng không cần nhiều công sức (về mặt thể lực, kỳ vọng về kinh nghiệm bản thân và tinh thần có thể sử dụng hệ thống dễ dàng), bao gồm: các chương trình huấn luyện cách sử dụng máy tính, thiết kế giao diện của máy tính, phần mềm cài đặt trên máy tính, ngôn ngữ thể hiện. Ngoài ra, mô hình TAM còn đề cập đến yếu thái độ hướng đến việc sử dụng, dựa vào thuyết hành động hợp lý. Theo Fishbein & Ajzen (1975) nhận thấy việc sử dụng có ảnh hưởng bởi thái độ là “ Cảm giác tiêu cực hay tích cực (có tính tính toán) về việc tiến hành hành vi mục tiêu”, hay hiểu là việc sử dụng một hệ thống ảnh hưởng bởi thái độ được thiết lập bởi sự hữu ích và sự tin tưởng về tính dễ sử dụng. Hữu dụng Các biến Thái độ Dự định Hành động môi trường Cảm nhận về việc dễ sử dụng Hình 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 2.2 Thuyết về hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Trong giai đoạn 1950, Fishbein cùng các cộng sự khác tiến hành nghiên cứu hành vi con người và các nhân tố tác động đến hành vi của họ.
Một trong những lý thuyết được dùng phổ biến rộng rãi đối với thuyết hành động hợp lý trong ngành tâm lý xã hội (Theory of Reasoned Action - TRA) của Fishbein & Ajzen (1975). Do đó mà thuyết “được xây dựng để trình bày cho các hành vi của con người”. Trong thuyết hành động hợp lý, nhân tố quan trọng nhất quyết định đến hành vi chính là ý định hành vi. Mà ý định hành vi phụ thuộc bởi 2 yếu tố là thái độ và tiêu chuẩn chủ quan.
Niềm tin về kết quả hành động và những đánh giá kết quả dựa trên hành động sẽ tác động 9 tới thái độ tích cực hay tiêu cực đối với hành động đó. Tiêu chuẩn chủ quan chính là những yếu tố bên ngoài xung quanh (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp….) gây tác động tới người đó. Mục đích của TRA là xem xét hành vi của mỗi cá nhân một cách tự nguyện bằng phương pháp kiểm tra cá nhân có động lực cơ bản tiềm ẩn thế nào khi thực hiện một hành vi. TRA chỉ ra rằng, ý định tiến hành hành vi của mỗi người là Nhân tố chính dự đoán về việc học rằng hành vi có được thực hiện hay không.
Ngoài ra các tác động từ xã hội cũng ảnh hưởng vào việc hành vi của người đó có thực hiện hay không. Dựa trên lý thuyết, hành vi thực tế ý phải có trước ý định thực hiện một hành vi. Ý định này gọi là ý định hành vi và là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện hành vi đó là cụ thể. Trong lý thuyết TRA ý định hành vi đóng vai trò quan trọng bởi vì các ý định này “được xác định bởi chuẩn chủ quan và thái độ đối với các hành vi”.
Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành Vi Chuẩn chủ quan Hình 2.