Chương 1 : Tổng quan lý thuyết nó đến hành vi của người tiêu dùng trong quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, từ kết quả của nghiên cứu thực nghiệm này không xác nhận tiền đề trên. Nó chỉ ra răng còn những khía cạnh khác nhau ngoài bản chất khác nhau của dịch vụ có thể đóng 1 vai trò quan trong đối với cảm nhận rủi ro trong việc mua hàng hóa, dịch vụ. Dựa trên tiền đề của Bauer, có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về cảm nhận rủi ro của các nhà khoa học như: Cunningham (1967), Stone and Winter (1987), Dowling and Staelin (1994), Zeithaml (1981), Bateson and Hoffman (1999),.Két qua của báo cáo là Người tiêu dùng có cảm nhận rủi ro khi mua | số hang hóa nhất định va các dịch vụ được so sánh s% Nghiên cứu “Determinants of Customers’ Acceptance of Electronic Payment System in Indian Banking Sector — A Study” Bài nghiên cứu cua 2 tac gia Sanghita Roy và Dr.Indrajit Sinha được dang trên tao chi khoa hoc International Journal of Scientific & Engineering Research (2014).
Mục tiêu chính của bai nghiên cứu là tim ra hầu hết các yếu tố anh hưởng đến việc khách hàng sử dụng dịch vụ Thanh toán điện tử tại Ấn Độ và mức độ nhận thức, sử dụng các kỹ thuật thanh toán điện tử ở các nhóm khách hàng khác nhau. Các tác giả đã bổ sung thêm biến: Cảm nhận rủi ro, Sự tín nhiệm được công nhận và thái độ của khách hàng vào mô hình TAM. Về cảm nhận rủi ro gần giống với bảo mật nhận thức và riêng tư. Mọi người vẫn còn lo sợ khi thực hiện giao dịch thanh toán điẹn tử vì họ lo ngại về khía cạnh bảo mật và riêng tư của hệ thống đó (mặc dù niềm tin của họ vào ngân hàng thì rất mạnh nhưng niềm tin vào công nghệ thì rất thấp).
Về biến sự tín nhiệm được công nhận là mức độ mà người dùng sử dụng hệ thống phải thực hiện giao dịch một cách an toàn va duy tri sự riêng tư của thông tin cá nhân chống lại sự truy cập trái phép. Theo Hanudin (2007), sự tín nhiệm được công nhận là một yếu tố quyết định hành vi có ý định sử dụng hệ thống thông tin. Kết quả của nghiên cứu chí ra rằng yếu tô dé sử dụng mong doi là yếu tố quan trọng nhất và yếu tô thái độ của khách hàng được cho là có ít ảnh hưởng nhất “ Nghiên cứu “Integration of Innovation Diffusion Theory (IDT) and Technology Acceptance Model (TAM) to Understand Mobile Banking Acceptance in Yemen: The Moderating Effect of Income” Vũ Thuy Linh - B17DCMR081 13 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1 : Tổng quan lý thuyết Đây là bài báo với mục tiêu xác định các yêu tô nồi bật với người tiêu dùng khi họ hình thành thái độ và hành vi sử dụng dịch vụ ngân hang di động của tac gia Ahmed M. Mutahar (2017) được đăng trên tạp chí JOSC.
Nghiên cứu sử dụng kết hợp 2 mô hình TAM và IDT dé phát triển mô hình nghiên cứu. Các yếu tố xuất hiện trong mô hình nghiên cứu là: cảm nhận dễ sử dụng, cảm nhận hữu ích, khả năng tương thích, khả năng trải nghiệm và khả năng quan sát. Kết quả cho thấy người tiêu dùng sẽ đi từ cảm thấy tương thích với nhu cầu, được dùng thử, được quan sát mọi người dùng dé cảm nhận tính hữu ich và cảm nhận tinh dé sử dụng dé dẫn đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động. s% Nghiên cứu “Những nhân tố tác động đến ý định sử dụng Ví điện tử của khách hàng cá nhân tại Việt Nam” Day là nghiên cứu với mục tiêu xác định những nhân tổ tác động và đo lường mức độ tác động của các nhân tố này tại Việt Nam của nhóm tác giả Trần Nhật Thùy, Nguyễn Thị Thu Trang, Vũ Thủy Linh (2020) được đăng trên tạp chí Nghiên cứu kế Kế toán.
Nghiên cứu sử dụng mô hình TAM và IDT để phát triển mô hình nghiên cứu. Các yếu tố xuất hiện trong mô hình nghiên cứu là: cảm nhận dé sử dụng, cảm nhận hữu ích, cảm nhận rủi ro, tin cậy cảm nhận, phi tiền tệ hóa. Kết quả cho thấy hai yếu tố tác động mạnh nhất là cảm nhận dễ sử dụng và cảm nhận hữu ích. Đây chính là tiền đề đề tác giả phát triển hướng nghiên cứu tiếp theo đề lý giải về kết quả này.
Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu Đã có rat nhiều giả thuyết và mô hình lý giải Y định sử dụng ví điện tử của khách hàng cá nhân, một trong số đó phải kê đến Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) và Mô hình phổ biến sự đổi mới (IDT) của Rogers (2003). Nhiều nghiên cứu đã sử dụng cả hai mô hình trong các bối cảnh và ứng dụng khác nhau (Al-Ajam và Nor, 2013; Giovanis và cộng sự, 2012; Hsu và Lin, 2015; Liu và cộng sự, 2005; Oliveira và Martins, 2011; Zhong và cộng sự. Hai yếu tố cốt lõi của TAM là Cảm nhận hữu ích và Cảm nhận dễ sử dụng. Rogers (2003) đã đề xuất năm yếu tố, hai yếu tố trong số là Tính đơn giản và Lợi thế tương đối tương tự như hai yếu tổ cốt lõi của TAM (Cảm nhận dé sử dụng và Cảm nhận hữu ích) và được coi là có mối quan hệ bổ sung (Moore và Benbasat, 1991) cùng với ba yếu tố (Khả Vũ Thủy Linh - B17DCMR081 14 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1 : Tổng quan lý thuyết năng tương thích, Khả năng thử nghiệm và Khả năng quan sát) tạo ra sự lan tỏa của đổi mới.
Theo Rogers (2003), nếu một sự đổi mới có năm đặc điểm nhận thức này thì nó có nhiều khả năng thành công và được chấp nhận. Trong nghiên cứu này, TAM được sử dụng làm lý thuyết nền tảng. Tuy nhiên, một trong những điểm yếu của nó là nó không bao quát được tất cả các khía cạnh có thể ảnh hưởng đến Ý định sử dụng ví điện tử của khách hàng cá nhân. Davis (1989) đề nghị kiểm tra ảnh hưởng của các biến bên ngoài đối với cấu trúc chính của TAM trong mô hình ban đầu.
Vì TAM chỉ tập trung vào Cảm nhận dé sử dụng và Cảm nhận hữu ích (Al-Qeis, 2009; Davis, 1989; Taylor và Todd, 1995). Vì thế, đối với nghiên cứu này, tác giả đề xuất một mô hình mạnh mẽ hơn để giải thích Ý định sử dụng Ví điện tử của khách hàng cá nhân tại Việt Nam, đó là mô hình kết hợp giữa TAM và IDT. TAM là một lý thuyết áp dụng các yếu tô tâm lý vào hành vi chấp nhận sử dụng hệ thống thông tin và máy tính. TAM đề xuất rằng hai yếu tố: Cảm nhận Hữu ích và Cảm nhận dễ sử dụng là những động lực chính ảnh hưởng đến thái độ của một cá nhân đối với việc sử dụng công nghệ và mở rộng ra là còn có liên quan đến việc sử dụng thực tế (Davis, 1989).
Mô hình TAM có giá trị trong việc giải thích sự chấp nhận của từng cá nhân đối với công nghệ: ví dụ WS Luan, T Teo (2009). Mô hình TAM còn được sử dụng trong việc dự đoán chất lượng dịch vụ của công nghệ mới; ví dụ Gorge & Kumar (2014). Dựa trên TAM, Liu & Tai (2016) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tô quyết định đến ý định sử dụng Ví điện tử tại Việt Nam. Họ đã chứng minh rằng hai yếu tố Cảm nhận hữu ích và Cảm nhận dé sử dụng đều ảnh hưởng sâu sắc đến ý định sử dụng Ví điện tử của người dùng.
Một số nghiên cứu trước đây đã chứng minh tính hợp lệ của TAM trên nhiều lĩnh vực công nghệ thông tin. Mô hình TAM được nhân rộng trong nhiều nghiên cứu khác nhau dé cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của Cảm nhận hữu ích và Cảm nhận dễ sử dụng đối với việc chấp nhận sử dụng công nghệ mới như ngân hàng trực tuyến, mua hàng trực tuyến, ngân hàng điện tử, internet di động, công nghệ máy tính, dịch vụ băng thông rộng. Cụ thể: Cảm nhận hữu ích Vũ Thủy Linh - B17DCMR081 15 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1 : Tổng quan lý thuyết Các nhà nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng Cảm nhận hữu ích có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi có ý định sử dụng công nghệ và định hình thái độ của người dùng đối với công nghệ đó (Akturan & Tezcan, 2012; Aldás-Manzano, Ruiz-Mafé, & Sanz-Blas, 2009; Khalifa & Shen, 2008; Wong và cộng sự, 2012; Wu & Wang, 2005). Tương tự như vậy, trong một nghiên cứu được thực hiện ở Malaysia, Cảm nhận hữu ích được chứng minh là ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định sử dụng thương mại điện tử (Wei, Marthandan, Chong, Ooi, & Arumugam, 2009).
Trong một nghiên cứu khác, nó được chứng minh là một yếu tố quan trọng trong ý định sử dụng dịch vụ đặt vé qua điện thoại di động (Herlina & Wibowo, 2011). Ngoài ra, Cảm nhận hữu ích còn được chứng minh răng có liên quan tích cực đến hành vi có ý định áp dụng ngân hang không dây (Luo, Li, Zhang, & Shim, 2010). Trong nghiên cứu cua Taufan & Yuwono (2018) chỉ ra răng Cảm nhận hữu ích có tác động tích cực đến ý định sử dụng Ví điện tử. Tương tự tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Liu & Tai (2016) đã chỉ ra Cảm nhận hữu ích là một trong những yếu té tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng Ví điện tử của khách hàng cá nhân tại Việt Nam.
Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất giả thuyết răng: H1: Cảm nhận hữu ich (PU) có tác động lên Ý định sử dụng VDT của khách hàng cá nhân tại Hà Nội Cảm nhận dễ sử dụng Davis (1989) định nghĩa Cảm nhận dé sử dụng là mức độ mà một người cảm thay dễ dàng khi sử dụng một sản phẩm công nghệ. Nhận thức này đã hình thành thái độ đến ý định sử dụng công nghệ của họ. Mặc dù hầu hết mọi người đã quen với việc sử dụng điện thoại di động, nhưng họ có thể chưa quen với các ứng dụng di động, ví dụ như VDT. Các tính năng như thực hiện giao dich tài chính thông qua ứng dung di động có thể là một nhiệm vụ khó khăn đối với người dùng mới.
Nếu một hệ thống đơn giản và dễ sử dụng, nó sẽ có tác động lớn đến việc chấp nhận hệ thong đó (Moore & Benbasat, 1991). Bat kỳ san pham công nghệ nào có thé học cách sử dung và quan lý đễ dàng sẽ làm tăng ý định sử dụng hệ thống đó (Childers, Carr, Peck, & Carson, 2001). Cảm nhận dễ sử dụng là một yếu tố quan trọng trong ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng (Lin, 2007).