Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu “Chương này giới thiệu một cách tổng quan về đề tài nghiên cứu, đồng thời trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi của nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu và kết cấu của bài.” “Chương 2: Cơ sở lý thuyết về và mô hình nghiên cứu “Chương này trình bày các khái niệm về ví điện tử và cơ sở lý thuyết liên quan đến ý định sử dụng ví điện tử. Chương này cũng giới thiệu một số mô hình lý thuyết liên quan đến các yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử, lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết hành vi có kế hoạch, lý thuyết nhận thức rủi ro, lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng (UTAUT2). Đồng thời, tác giả cũng lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến ý định sử dụng ví điện tử.” “Chương 3: Phương pháp nghiên cứu “Chương này tác giả trình bày các bước trong quy trình nghiên cứu bao gồm: Quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo, quy trình nghiên cứu, phương pháp xác định mẫu nghiên cứu. Qua đó, giúp tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức, thang đo các yếu tố trong mô hình hoàn chỉnh, cũng như xác định số lượng mẫu phù hợp để phục vụ cho việc nghiên cứu định lượng.” “Chương 4: Kết quả nghiên cứu “Chương này giới thiệu tổng quan về ví điện tử MoMo, trình bày và giải thích các kết quả của nghiên cứu, mô tả mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tuyến tính bội các yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo của người tiêu dùng tại tỉnh Bình Dương.
Từ đó, thiết lập mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đề ra.” “Chương 5: Hàm ý quản trị và kết luận 7 “Trình bày các kết quả nghiên cứu từ đó rút ra cái nhìn tổng quan về các yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo trong tiêu dùng của người dân tại tỉnh Bình Dương để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Nêu ra những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất các hàm ý quản trị nhằm khuyến khích ý định sử dụng ví điện tử MoMo trong tiêu dùng của người dân tại tỉnh Bình Dương.” Tóm tắt chương 1: Trong bối cảnh thị trường ví điện tử và thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh và Hà Nội. Đặc biệt, trong bối cảnh hoạt động thương mại truyền thống gặp nhiều khó khăn dưới tác động của dịch Covid-19. Các nghiên cứu hiện tại tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt giữa các bối cảnh nghiên cứu khác nhau.
Mục tiêu của tác giả là đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp các nhà quản trị ví điện tử MoMo có cái nhìn cụ thể hơn về chất lượng dịch vụ, từ đó cải tiến và mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dân tại tỉnh Bình Dương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm về ví điện tử và ý định sử dụng ví điện tử 2. Khái niệm về ví điện tử “Dịch vụ ví điện tử được định nghĩa tại Điều 4 của Nghị định 101/2012/NĐ- CP bổ sung tại Khoản 1, Điều 1 của Nghị định 80/2016/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt như sau: Dịch vụ ví Điện tử là một dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử được xác định thông qua các thiết bị lưu trữ thông tin (như chip điện tử, thẻ sim điện thoại di động, máy tính) do các nhà cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán tạo ra, cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được bảo đảm bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng đến tài khoản bảo đảm thanh toán của nhà cung cấp ứng dụng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.” Ví điện tử là các ứng dụng di động cho phép người dùng thực hiện các giao dịch không sử dụng tiền mặt trong cửa hàng và trực tuyến bằng cách sử dụng điện thoại thông minh hoặc đồng hồ thông minh, thay vì mang theo các thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ cùng việc lưu giữ giấy tờ tùy thân.
“Theo Aji và Adawiyah (2022), ví điện tử là một dạng thẻ điện tử có thể được sử dụng để thực hiện các giao dịch trực tuyến bằng cách sử dụng máy tính hoặc điện thoại thông minh. Nó hoạt động tương tự như một thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ, để thực hiện giao dịch một ví điện tử phải liên kết với một tài khoản ngân hàng hợp lệ theo Kumar và cộng sự (2019). Thông thường, ví điện tử tồn tại dưới dạng ứng dụng trên điện thoại di động, nhưng cũng có thể tồn tại dưới dạng phần mềm trên cửa sổ hiển thị chính của máy tính cá nhân. Trong các ví điện thoại di động, người tiêu dùng có thể lưu trữ thông tin cá nhân và tài chính của họ, lịch sử mua sắm và lịch sử thanh toán, và sử dụng thông tin thanh toán của mình cho các giao dịch khác nhau như thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, thanh toán mua sắm và đặt vé.
Nhiều ví điện thoại di động hiện nay sử dụng xác thực hai yếu tố, xác minh danh tính của người dùng bằng hai cách khác nhau. Ví điện tử thay thế cho các thẻ truyền thống và cho phép thêm các dịch vụ gia tăng, tùy thuộc vào chủ sở hữu, ứng dụng di động là hình thức phổ biến nhất của ví điện tử nhờ tính linh hoạt và di 1 động. So với việc sử dụng hệ thống ví truyền thống, ví điện tử không chỉ tiện lợi hơn mà còn an toàn hơn. Người dùng có thể tránh việc mang theo ví đựng tiền mặt, tránh được rủi ro trộm cắp.
Hệ sinh thái của dịch vụ ví điện tử bao gồm ba thành phần chính: Nhà cung cấp dịch vụ mạng, người dùng và nền tảng công nghệ kết nối, trong đó khách hàng (người tiêu dùng) luôn được xem là trọng tâm. Nhà cung cấp dịch vụ ví sẽ hợp tác với ngân hàng để quản lý tiền của khách hàng. Nhờ đối tác này, ngân hàng sẽ tiết kiệm được thời gian quản lý các giao dịch thanh toán từ thẻ của khách hàng, vì nhà cung cấp dịch vụ ví sẽ xử lý những giao dịch này. Ý định sử dụng “Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được phát triển bởi Ajzen và Fishbein vào cuối những năm 60 của thế kỷ 20 và sau đó được điều chỉnh và mở rộng trong những năm thập niên 70 là một trong những lý thuyết quan trọng nhất về nghiên cứu ý định hành vi.
Lý thuyết này chỉ ra rằng ý định hành vi là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất trong việc dự đoán hành vi tương lai. Ý định hành vi của một người được đánh giá dựa trên hai yếu tố chính: thái độ và chuẩn chủ quan. Sau đó vào năm 1985 Davis đã giới thiệu mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model) để giải thích các yếu tố tác động đến sự chấp nhận công nghệ và hành vi của người sử dụng công nghệ. Mô hình TAM khám phá mối quan hệ và tác động giữa nhận thức về tính dễ sử dụng và nhận thức về tính hữu ích đối với thái độ và từ đó tác động đến ý định và hành vi của người sử dụng trong việc chấp nhận công nghệ thông tin.
Ý định hành vi được xem như một bước quan trọng và trực tiếp dẫn đến hành vi sử dụng công nghệ trong mô hình TAM. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Zhang và cộng sự vào năm 2012 đã xác định rằng ý định sử dụng là một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu về hành vi tiêu dùng và cũng là yếu tố chủ chốt quyết định hành vi tiêu dùng thực tế. Do đó, nghiên cứu này tập trung vào việc xem xét các yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo trong ngữ cảnh tiêu dùng của cư dân tại tỉnh Bình Dương. Ý định sử dụng ví điện tử Các tác giả đã đưa ra nhiều định nghĩa về ý định hành vi, tạo nên một khung lý thuyết đa dạng.
Ajzen (1988) định nghĩa ý định hành vi như khả năng chủ quan của con người để dự định đạt được trong một khoảng thời gian xác định. Tirtiroglu và Elbeck (2008) mô tả ý định hành vi như sự sẵn lòng của khách hàng để sử dụng một sản phẩm cụ thể. Zhao và Othman (2010) xem xét ý định hành vi như quá trình hành động mà cá nhân muốn thực hiện. Ajzen và cộng sự (1975) định ý định hành vi như khả năng đo lường ý định của một cá nhân để thực hiện một hành vi cụ thể hoặc như sự cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực đối với việc thực hiện một hành vi mục tiêu.
Ý định hành vi thường liên quan đến sự khuynh hướng của cá nhân và cho biết liệu họ sẽ sử dụng một công nghệ mới hay không theo Latupeirissa và cộng sự (2020). Mức độ sử dụng công nghệ có thể được dự đoán từ việc cá nhân tham gia vào công nghệ theo nghiên cứu của Davis (1989). Nghiên cứu của Peña- García và cộng sự (2020) đã chứng minh rằng ý định hành vi có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng công nghệ. Dựa trên nghiên cứu này, có thể kết luận rằng ý định hành vi có khả năng tạo ra tác động tích cực đối với việc sử dụng ví điện tử trong tương lai.
Theo Ajzen (2011) ý định có thể được xem như một tập hợp các yếu tố động cơ có tác động lên hành vi của từng cá nhân. Những yếu tố này phản ánh mức độ sẵn sàng và nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng định nghĩa của Ajzen (2011) làm cơ sở để đánh giá ý định sử dụng ví điện tử MoMo trong tiêu dùng của người dân tại tỉnh Bình Dương. Đồng thời, tác giả cũng đã xác nhận rằng ý định sử dụng ví điện tử MoMo trong tiêu dùng của người dân tại tỉnh Bình Dương bao gồm những yếu tố động cơ có tác động đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo của mỗi cá nhân.
Như vậy ý định sử dụng ví điện tử MoMo đóng vai trò quan trọng để đánh giá hành vi của khách hàng trong tương lai.