Chương 1 đã trình bày tổng quan những vấn đề mà nghiên cứu này sẽ đề cập. Chương 2 sẽ đi vào nội dung chi tiết với phần trình bày về cơ sở lý thuyết của nghiên cứu bao gồm: một số khái niệm về giá trị thương hiệu, giá trị nhà bán lẻ, giá trị liên kết thương hiệu-nhà bán lẻ theo quan điểm người tiêu dùng, 3 thành phần của giá trị liên kết thương hiệu-nhà ban lẻ, ý định mua, mối quan hệ giữa giá trị liên kết thương hiệu và ý định mua; mức độ thích hợp của thương hiệu trong một ngành hàng và mối liên quan tới giá trị liên kết thương hiệu-nhà bán lẻ. Sau đó, tác giả sẽ đưa ra mô hình và các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định ở đề tài này.1 Giá trị thương hiệu, giá trị nhà bán lẻ 2.1 Giá trị thương hiệu Có rất nhiều khái niệm về giá trị thương hiệu, sau đây là bảng tổng hợp một số định nghĩa về giá trị thương hiệu.1 Định nghĩa giá trị thương hiệu Quan STT Nghiên cứu Định nghĩa giá trị/tài sản thương hiệu Ghi chú điểm Phía 1 Giá trị thương hiệu (Brand Equity) của một doanh doanh nghiệp có thể được xem là phần chênh nghiệp lệch giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và giá trị sổ sách trên bảng tổng kết tài sản của nó. Phía 2 Aaker Tài sản thương hiệu là một tập hợp các tài sản Managing brand khách (1991) có và tài sản nợ, liên quan đến thương hiệu của equity hàng một sản phẩm/dịch vụ, nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và/hoặc cho các khách hàng của doanh nghiệp đó.
Bốn thành phần của giá trị thương hiệu: (1) Lòng trung thành (brand loyalty), (2) Nhận biết thương hiệu, (3) Chất lượng cảm nhận (perceived quality), (4) Các thuộc tính đồng hành cùng thương hiệu (brand associations) 3 Keller Giá trị thương hiệu chính là kiến thức của khách Strategic brand (1993) hàng về thương hiệu đó (brand knowledge). management Kiến thức khách hàng này bao gồm hai phần chính: (1) nhận biết thương hiệu (brand awareness) và (2) ấn tượng về thương hiệu (brand image). 4 Lassar & Giá trị thương hiệu gồm 5 thành phần: (1) Chất ctg (1995) lượng cảm nhận, (2) Giá trị cảm nhận (perceived value), (3) Ấn tượng thương hiệu, (4) Lòng tin về thương hiệu của khách hàng (trustworthiness), (5) Cảm tưởng khách hàng về thương hiệu (commitment) 5 Keller Giá trị thương hiệu dựa trên khách hàng là sự (1998) ảnh hưởng phân biệt mà kiến thức thương hiệu tạo ra trên phản ứng của khách hàng với việc marketing thương hiệu. Giá trị xuất hiện khi người tiêu dùng có mức độ Tybour & nhận biết và quen thuộc với thương hiệu cao và Tim có những liên tưởng thương hiệu mạnh mẽ, có Calkins, lợi và độc nhất trong tâm trí" 2007) 7 Nguyễn Giá trị thương hiệu cho thị trường các sản phẩm Đình Thọ tiêu dùng tại Việt Nam gồm có 3 thành phần: & Nguyễn (1) Nhận biết thương hiệu, (2) Chất lượng cảm Thị Mai nhận, (3) Lòng ham muốn thương hiệu (brand Trang passion) chính là sự thích thú, có xu hướng tiêu (2002) dùng và trung thành thương hiệu.
Hầu như các mô hình trên đều dựa trên hai mô hình cơ bản về giá trị thương hiệu của Aaker (1991) và Keller (1993) 8 Hình 2.1 Mô hình giá trị thương hiệu của Aaker (1991) Hình 2.2 Mô hình giá trị thương hiệu của Keller (1993) Tóm lại, ta thấy có sự đồng thuận đối với khái niệm giá trị thương hiệu như là những giá trị ưu đãi được thêm vào sản phẩm nhờ có thương hiệu, nhưng mô hình về giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng có sự chưa thống nhất. Điều này cho thấy rằng giá trị thương hiệu là một khái niệm phức tạp. Sự khác biệt này là do đặc trưng của từng quốc gia, vùng miền địa lý và ngay cả giữa sản phẩm hữu hình và dịch vụ, hoặc giữa các sản phẩm ở các ngành hàng khác nhau. Hơn nữa theo Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2002), việc xác định biến nào là biến thành phần, biến nào là biến nguyên nhân và kết quả của giá trị thương hiệu là việc không hề đơn giản và dễ dàng.
Do đó chúng ta cần cố gắng nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu và đo lường giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng. Trong các mô hình trên, cần làm rõ một số khái niệm mà đề tài sẽ kế thừa: Brand Awareness (BA) - Mức độ nhận biết thương hiệu: Mức độ nhận biết về thương hiệu là khả năng một người mua tiềm năng có thể biết được hoặc nhớ được rằng thương hiệu là một đại điện của một chủng loại sản phẩm nào đó. Mức độ nhận biết thương hiệu có thể chia thành 4 cấp độ, từ chỗ thương hiệu chưa được biết đến, đến cấp độ thương hiệu có thể nhận biết khi có sự trợ giúp nhất định, qua cấp độ thương hiệu đã tự có khả năng gợi nhớ cho người tiêu dùng về việc thương 9 hiệu đó được dùng cho hàng hóa hoặc dịch vụ nào và cao nhất là thương hiệu đó có vị trí ngự trị trong tâm trí người tiêu dùng.3 Các mức độ nhận biết thương hiệu Mức độ nhận biết thương hiệu là cơ sở ban đầu để neo kết mọi ấn tượng, cảm nhận về phong cách của thương hiệu. Theo qui luật tâm lý học, một hiện tượng hoặc sự vật càng trở nên quen thuộc sẽ càng có độ tin cậy cao.
Tác động tâm lý này vừa có ý nghĩa với người tiêu dùng, vừa có ý nghĩa đối với chủ sở hữu thương hiệu. Brand Association (image) (BAS) - Những liên tưởng thương hiệu: Liên tưởng thương hiệu là bất kỳ điều gì đó nối trí nhớ của khách hàng đến với thương hiệu một cách trực tiếp hay gián tiếp. Ví dụ khi nhắc tới thương hiệu Trung Nguyên, nhiều người có thể nhớ ngay đến cà phê, biển hiệu Trung Nguyên với một số yếu tố màu sắc và đồ họa, câu slogan “Khơi nguồn sáng tạo”. Các ấn tượng liên kết này làm giàu thêm hình ảnh về Trung Nguyên và nếu người tiêu dùng hài lòng với bản thân hương vị cà phê hoặc sự phục vụ trong một quán cà phê Trung Nguyên (trong sự so sánh với chất lượng được cảm nhận của các thương hiệu cà phê khác), các ấn tượng liên kết đó có thể giúp củng cố hoặc gia tăng chất lượng cảm nhận.
Trong mối quan hệ đó, chất lượng được cảm nhận được cho là yếu tố quyết định trực tiếp và các liên kết thương hiệu đóng vai trò tác động gián tiếp lên hành vi tiêu dùng. Khi hoạch định các kế hoạch truyền thông, các doanh nghiệp cần ưu tiên tập trung cho chất lượng được cảm nhận của thương hiệu trước khi theo đuổi các yếu tố liên kết. Tuy nhiên, trong trường hợp chất lượng được cảm nhận của các thương hiệu cạnh tranh là tương đồng hoặc không thể so sánh trực tiếp với nhau thì vai trò của các ấn tương liên kết trở nên quyết định. Có nhiều nguồn ấn tượng liên kết khác nhau trong việc phong phú hóa cho hình ảnh thương hiệu, có thể là thông số nào đó của sản phẩm, là mức giá mà thương hiệu này áp dụng so với giá của đối thủ cạnh tranh, cũng có thể là cách thức sử dụng sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu.
Điều đáng chú ý là mối tương quan giữa các ấn tượng liên kết với hình ảnh thương hiệu. Trước hết, các ấn tượng chỉ có thể liên kết vào ký ức khi chúng đã được khắc họa ở mức độ nhất định. Điều này cần chú ý trong hoạt động truyền thông, hạn chế việc thay đổi liên tục thông điệp truyền thông khiến các thông điệp xuất hiện hỗn độn và nhất thời, ấn tượng liên kết với thương hiệu không thể định hình, hình ảnh thương hiệu trở nên mờ nhạt, vô nghĩa. 10 Brand Loyalty - Lòng trung thành thương hiệu: Điều cốt lõi tạo nên tài sản thương hiệu là sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu đó.
Khách hàng trung thành với thương hiệu khi họ bằng mọi cách tìm mua bằng được thương hiệu mà họ muốn bất chấp các thương hiệu khác đang cạnh tranh quyết liệt về giá cả, chất lượng và sự tiện lợi. Các khách hàng mua một thương hiệu cụ thể có thể chia thành 5 mức độ trung thành: Khách hàng mua ngẫu nhiên Khách hàng mua theo thói quen Khách hàng có chi phí chuyển đổi Khách hàng ưa thích thương hiệu Khách hàng gắn bó với thương hiệu. Có 5 chỉ tiêu dùng để đo lường sự trung thành với thương hiệu: Hành vi mua sắm, chi phí chuyển đổi, sự thoả mãn, sự ưa thích, sự gắn bó. Hành vi mua sắm: có thể đo lường hành vi mua sắm qua các chỉ tiêu như tỷ lệ mua lại thương hiệu, tỷ số khách phần đối với một thương hiệu, số lượng sản phẩm cùng một thương hiệu mà khách hàng mua.
Dữ liệu về hành vi mua sắm tuy khách quan nhưng xác định tốn kém và thường thiếu chính xác. Những dữ liệu này cho thấy, sự trung thành với thương hiệu trong những loại sản phẩm khác nhau là khác nhau vì số thương hiệu cạnh tranh trong mỗi loại và bản chất của sản phẩm không giống nhau. Chi phí chuyển đổi: Những thương hiệu có chi phí chuyển đổi cao và có rủi ro khi chuyển đổi thường có nhiều khách hàng trung thành hơn. Sự thoả mãn hoặc không thoả mãn: Nếu khách hàng có mức độ thoả mãn khi sử dụng thương hiệu cao hơn các thương hiệu cạnh tranh họ sẽ trung thành và ngược lại.
Sự thỏa mãn của khách hàng được đánh giá thông qua giá trị kỳ vọng và giá trị cảm nhận đối với một sản phẩm. Kết quả đo lường sự thoả mãn phải cập nhật, tiêu biểu và nhạy bén. Sự ưa thích: Đo lường mức độ ưa thích thương hiệu của khách hàng, bao gồm các mức độ: thích, tôn trọng, thân thiết, tin tưởng. Sự gắn bó với thương hiệu: Càng nhiều khách hàng gắn bó, hết lòng với thương hiệu thì thương hiệu càng mạnh.
Sự gắn bó với thương hiệu biểu hiện thông qua “tuổi thọ” trung bình của khách hàng và là cơ sở tạo nên giá trị vòng đời khách hàng (Customer Lifetime Value ). Xây dựng lòng trung thành với thương hiệu là nỗ lực lâu dài dựa trên việc cung cấp lợi ích mong muốn thực sự cho khách hàng và làm họ hài lòng. Tuy nhiên, lòng trung thành có thể bị suy giảm nếu doanh nghiệp không có những biện pháp để giữ gìn và phát huy thường xuyên.Đối với những cấp độ trung thành khác nhau của khách hàng, doanh nghiệp cần tiến hành những chiến lược kinh doanh khác nhau.