đặt vấn đề, xác định tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài về mặt lý luận, thực tiễn và tổng quan về lĩnh vực. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Các lý thuyết về đại học, chương trình đào tạo chất lượng cao, các mô hình nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài, tìm hiểu và lựa chọn khung mẫu, tìm kiếm các yếu tố liên quan để tạo thành một khuôn khổ hoàn chỉnh, phù hợp cho nghiên cứu. Hoàn thiện vấn đề nghiên cứu, đề tài nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Từ nội dung đã được xác định, vận dụng kiến thức và căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, xác định phương pháp nghiên cứu, công cụ thu thập dữ liệu, mẫu khảo sát và lịch trình phù hợp để thu thập đữ liệu thực tế.
Kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phương pháp phân tích hồi qui đa tuyến, kiểm định T-test, ANOVA. Tổ chức thu thập dữ liệu thông qua cuộc điều tra nghiên cứu định lượng quy mô lớn, thể hiện được đặc điểm của quần thể nghiên cứu. Sử dụng các công cụ thống kê, phương pháp cụ thể để phân tích và đánh giá từng yếu tố riêng biệt đã đặt ra trước đó. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết quả phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, hồi quy đa biến và thảo luận về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định học chương trình Đào tạo Kỹ sư chất lượng cao của sinh viên tại Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tóm tắt kết quả nghiên cứu, rút ra kết luận, đưa ra khuyến nghị, những đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Tiến hành gửi báo cáo, thuyết trình đến hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ tại Trường đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, để nhận được những ý kiến đóng góp từ Hội đồng. Phần ba: Phần kết luận luận văn 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan lý thuyết nền Đại học, chương trình đào tạo chất lượng cao và lựa chọn Đại học: Theo Luật giáo dục đại học - Luật số 08/2012/QH13: Đại học là cơ sở giáo dục gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng thực hiện công tác giảng dạy và nghiên cứu thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Trong luật sửa đổi - Luật số 34/2018/QH14: Đại học có cơ cấu tổ chức theo quy định chung của Nhà nước, có giá trị cốt lõi, triết lý giáo dục, tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chiến lược riêng, các đơn vị trong cơ cấu tổ chức cũng đảm bảo thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ được giao.
Chương trình đào tạo chất lượng cao: Là chương trình học phát triển dựa trên chương trình đào tạo đại trà trong đó đặc biệt chú trọng kỹ năng ngoại ngữ và thực hành. Với phương pháp giáo dục đặc biệt, sinh viên khi ra trường cần đạt chuẩn đầu ra về trình độ chuyên môn và kỹ năng cần thiết. Các cơ sở đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh trong quá trình học, làm bài thi, viết khóa luận…do đó, việc thành thạo tiếng Anh là yêu cầu cần thiết cho sinh viên khi tốt nghiệp. Lựa chọn: Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Hộ (2006) lựa chọn là hành động xem xét, cân nhắc để đưa ra quyết định cuối cùng cho một việc nào đó, các hành động nhằm đạt được mục tiêu đã quyết định lựa chọn.
Đó là các hành động của con người trong việc xem xét giữa các yếu tố của một vấn đề và đưa ra ý kiến cuối cùng của mỗi cá nhân hoặc tổ chức. Yếu tố được chọn sẽ được tách ra khỏi phần còn lại theo sở thích của người chọn. Quốc tế hóa và chương trình Đào tạo Kỹ sư chất lượng cao Toàn cầu hóa là sự thay đổi của xã hội, kinh tế, giáo dục trên các quốc gia, thể hiện sự liên kết và giao lưu ngày càng tăng giữa các quốc gia, tôn trọng các quy tắc và quy định chung được ký kết và chấp nhận. “Quốc tế hóa” là một quá tình hội nhập và phát triển của các quốc gia, dân tộc và các tổ chức chính phủ với nhau.
Là quá trình hoạch định các hoạt động của các công ty (như chiến lược, cơ cấu, nhân lực) để thích nghi với môi trường quốc tế. Theo De Wit (2002) quốc tế hóa là quá trình có chủ đích, tích hợp các khía cạnh quốc tế vào mục đích và nhiệm vụ của giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, tạo ra 10 những đóng góp có ý nghĩa cho xã hội. Quốc tế hóa dẫu dầu bởi sự phát triển mạnh mẻ nền kinh tế thương mại và công nghệ thông tin. UNESCO với 195 quốc gia thành viên đã thống nhất về một số mục tiêu mà quốc tế hóa giáo dục đại học hướng tới: Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa; Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức; Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua những phương tiện thông tin rộng rãi; Khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn ngữ và hình ảnh; Góc nhìn quốc tế và toàn cầu, tăng cường khả năng đổi mới và nâng cao tri thức, phục vụ công việc và đời sống cá nhân cũng như sự tiên tiến của đất nước.
Quốc tế hóa giáo dục trong nước tập trung liên kết văn hóa, quốc tế và toàn cầu trong chương trình chính khóa và ngoại khóa, nhằm lồng ghép quốc tế hóa vào chất lượng giáo dục tổng thể. Toàn cầu hóa giáo dục là một xu hướng trở nên rất phổ biến trong giới sinh viên, những người có mong muốn theo đuổi một nền giáo dục toàn cầu trong nước. Sự kết hợp của “toàn cầu” và “địa phương”. Toàn cầu thể hiện một lượng lớn các bạn sinh viên tìm kiếm nền giáo dục hiện đại (Transnational Education - TNE) dưới các hình thức như: các cơ sở quốc tế của các trường đại học, liên kết giáo dục giữa các trường quốc tế và nội địa, giáo dục trực tuyến.
Chuỗi hoạt động của các chương trình liên kết quốc tế ở Việt Nam nằm trong chiến lược xuất khẩu giáo dục của các nước phương Tây, những năm 1990, khi các trường đại học ở các quốc gia nói tiếng Anh chiếm ưu thế như Mỹ, Úc và Anh phát triển các cơ sở chi nhánh và hoạt động nhượng quyền tại Singapore, Malaysia, Việt Nam, Nam Phi, đánh dấu bước chuyển từ khai thác sự dịch chuyển của sinh viên sang khai thác sự dịch chuyển của CTDT và trường đại học. Mô hình này đã được triển khai tại Việt Nam, đại diện như trường đại học RMIT, Swinburne. với giáo trình học bằng tiếng Anh và tiêu chuẩn đào tạo chất lượng cao. Công tác đào tạo theo CTDT chất lượng cao từ một thành phần thứ yếu đã dần trở thành yếu tố mang tính chiến lược quan trọng hành đầu trong nền giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, thực nghiệm học tập toàn cầu, thúc đẩy quá trình hội nhập mang lại cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên.
Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, nhưng vẫn giữ được nét bản sắc dân tộc trong giáo dục con người Việt Nam với những 11 đặc trưng riêng, tìm kênh tiếp cận thích hợp, lựa chọn lĩnh vực mũi nhọn, đột phá. Thông qua nhiều kênh khác nhau, từ việc ký kết hợp tác, trao đổi giáo dục trong nước với các CTDT hiện đại, tiên tiến, giao lưu, tham gia các hoạt động ngoại khóa. Việc hội nhập phải bảo đảm thực hiện trong tất cả các khâu của giáo dục và đào tạo, kiểm tra, đánh giá và trang bị cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn để ra. Nhằm hòa nhập chung với giáo dục tiên tiến, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội nghị “Thúc đẩy cơ hội học tập chương trình giáo dục quốc tế tại Việt Nam” để trao đổi, đề xuất, thúc đẩy các chiến lược phát triển giáo dục.
Việt Nam dần đi đến sự thống nhất trong quan niệm và chuẩn mực của các cấp độ sản phẩm cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Xây dựng rõ các mục tiêu quan trọng trong công tác đào tạo và đào tạo kỹ sư nói riêng. Trong 20 năm phát triển (1999-2019) Việt Nam và Cộng hoà Pháp có quá trình hợp tác đào tạo và nghiên cứu lâu dài, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tăng hữu nghị giữa hai nước như Trung tâm Pháp-Việt Đào tạo về Quản lý (CFVG), Chương trình Đào tạo Kỹ sư chất lượng cao (PFIEV), Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH). Theo Nghị định CP 12/10/2017, Chương trình PFIEV đã tuyển sinh được 21 khóa với gần 6.300 sinh viên, 18 chuyên ngành đào tạo.
Các sinh viên được tuyển vào Chương trình PFIEV cần có kết quả cao tại kỳ thi tuyển sinh đại học vào 4 trường đại học là HUCE, HUST, DUT và HCMUT hợp tác cùng 8 trường tại Pháp. Yêu cầu tuyển sinh chất lượng cao, công tác đào tạo nghiêm ngặt. Chương trình hướng tới đào tạo đội ngũ kỹ sư, nguồn nhân lực giỏi, có kinh nghiệm làm việc quốc tế, kết hợp nghiên cứu với sản xuất. Do đó, sinh viên được rèn luyện khả năng ngoại ngữ và sự thích ứng với các điều kiện làm việc chuẩn quốc tế.
Trên cơ sở đánh giá của Uỷ ban bằng kỹ sư Pháp, Cộng hòa Pháp đã ba lần công nhận Bằng kỹ sư của Chương trình: giai đoạn 2004 - 2010, 2010 – 2016, 2016-2022. Ủy ban văn bằng kỹ sư Pháp (CTI) và Cơ quan kiểm định các chương trình đào tạo kỹ sư châu Âu (ENAEE) công nhận văn bằng kỹ sư thuộc Chương trình PFIEV được công nhận tương đương trình độ thạc sĩ. Phương thức đào tạo ở bốn trường có những thay đổi lớn được Hội đồng cấp cao về đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học (HCERES) cấp Chứng nhận công nhận Cơ sở Đào tạo đạt chuẩn châu Âu. Theo Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, ông Nguyễn Tiến Dũng, đã ghi nhận những thành tựu mà Chương trình mang lại cho bốn trường thành viên và quan hệ hợp 12 tác tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam và Pháp.
Chương trình này có thể coi là một điểm sáng cho quan hệ hợp tác Pháp – Việt trong lĩnh vực đào tạo. Chương trình PFIEV thúc đẩy kết quả học tập quốc tế và liên văn hóa và tăng cường công tác đào tạo.