chương 1, tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài, trình bày lý do chọn đề tài để từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Sau đó, đưa ra phương pháp nghiên cứu phù hợp và cuối cùng là bố cục của đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm liên quan. Theo Ajzen (1991), ý định là mong muốn thúc đẩy và đại diện cho một cá nhân thực hiện một hành vi cụ thể.
Vào năm 2002, Ajzen cho rằng ý định là trung gian dẫn đến hành vi. Còn theo, Campbell (2003) ý định là trạng thái nhận thức, vẫn ở trong ký ức của con người cho tới khi có thời gian thích hợp và cơ hội để thực hiện hành vi, cụ thể hơn là quyết định. Sultan & Wong (2012) định nghĩa “Ý định hành vi là sự sẵn sàng của người tiêu dùng đề thực hiện các hành vi cụ thể và bao gồm các kết quả cuối cùng tích cực và tiêu cực”. Tóm lại, ý định là sự biểu thị tính sẵn sàng bao gồm tất cả các yếu tố tác động đến hành vi của con người và các yếu tố này có tính chất thúc đẩy và sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi.
Lựa chọn được coi là một quá trình liên quan đến tinh thần, tư duy. Nó có liên quan đến quá trình đánh giá của nhiều sự lựa chọn và đưa ra quyết định lựa chọn một một trong số đó để hành động (Schwartz, 2005). Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) cho rằng lựa chọn là thuật ngữ được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để sử dụng phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức thực hiện để có thể đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực. Còn theo Vũ Minh Hiếu và cộng sự (2020) thì tất cả những hành vi của con người đều là một sự lựa chọn để đáp ứng một hay nhiều những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Tóm lại, lựa chọn là sự tính toán kĩ lưỡng để đưa ra các lựa chọn tốt và mang lại kết quả phù hợp với mục đích cá nhân. TOEIC (Test of English for International Communication) là bài thi đánh giá trình độ sử dụng tiếng Anh của những cá nhân sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ trong môi trường giao tiếp và làm việc quốc tế. Kết quả Toeic phản ánh mức độ thành thạo của một cá nhân trong giao tiếp bằng tiếng Anh trong các ngữ cảnh như kinh doanh, thương mại và sản xuất. Bài thi Toeic không yêu cầu kiến thức và từ vựng chuyên ngành, mà là tiếng Anh sử dụng trong công việc và sinh hoạt hàng ngày (iigvietnam.
Tóm lại, Toeic là chứng chỉ tiếng anh quốc tế. Trung tâm ngoại ngữ. Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học là cơ sở giáo dục thường xuyên thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các loại hình: Công lập, tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài do cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư toàn bộ hoặc góp một phần vốn, căn cứ quy định tại Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Trung tâm ngoại ngữ tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo Toeic, Toefl, Ielts, trình độ A, B, C quốc gia và các chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ khác đối với các ngôn ngữ như Anh, Pháp, Trung… cho người nước ngoài.
Tổ chức kiểm tra, đánh giá và cấp chứng chỉ hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ do trung tâm tổ chức. Tổ chức thi và cấp chứng chỉ ngoại ngữ của hệ thống giáo dục quốc dân khi có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tổ chức kiểm tra và cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ ngoại ngữ quốc gia cho học viên của trung tâm đã hoàn thành chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Liên kết với các trung tâm, các cơ sở ngoại ngữ khác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ.
8 Tổ chức các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ cho các giảng viên của trung tâm và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn nếu cần thiết. Liên kết với các trung tâm và các cơ sở ngoại ngữ khác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá và cấp chứng chỉ ngoại ngữ. Tóm lại, trung tâm ngoại ngữ là trung tâm giáo dục thường xuyên chuyên về đào tạo và bồi dưỡng ngoại ngữ.2 Các học thuyết liên quan. Lý thuyết về hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA).
Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) lần đầu tiên được đề xuất bởi Fishbein (1967) và sau đó được cải tiến, phát triển và thử nghiệm thêm bởi Fishbein và Ajzen (1975). Lý thuyết về hành động hợp lí quan tâm đến hành vi của người tiêu dùng cũng như việc xác định khuynh hướng hành vi của họ, trong khuynh hướng hành vi là một phần của thái độ đối với hành vi và là một phần của chuẩn chủ quan (Ảnh hưởng của người khác cũng dẫn tới thái độ của họ). Mô hình có hai thành phần chính là Thái độ và Chuẩn chủ quan, được thể hiện trong hình sau: 9 Niềm tin đối với thuộc tính của sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi thực hành vi sự Niềm tin với những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng nên hay không nên mua san phẩm Chuẩn chủ quan Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975). Lý Thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB).
Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991) được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. 10 Xu hướng hành vi được cho bao gồm các yếu tố thúc đẩy ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng tham gia vào hành vi đó (Ajzen, 1991). Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện.
Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behaviour) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Thái độ đối với hành vi Ý Tiêu định Hành vi chuẩn chủ hành quan vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB).3 Các nghiên cứu có liên quan.
Prof Dr Karl Wagner & Pooyan Yousfi Fard (2009) “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học tập tại một cơ sở giáo dục đại học của sinh viên Malaysia”. Chi phí giáo dục Bằng cấp (nội dung và cấu trúc) Khía cạnh vật chất, cơ sở vật chất và nguồn lực Ý định học tập Giá trị giáo dục Thông tin về tổ chức Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Hình 2.3: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học tập tại một cơ sở giáo dục đại học của sinh viên Malaysia. Nguồn: Prof Dr Karl Wagner & Pooyan Yousfi Fard (2009) Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đáng kể đến ý định học tập tại một cơ sở giáo dục đại học sinh viên. Kết quả nghiên cứu này sẽ có lợi về mặt 12 ra quyết định và sẽ đóng góp vào vai trò hỗ trợ các nhà tiếp thị giáo dục đại học lập kế hoạch và cải thiện chiến lược tiếp thị để tuyển dụng nhân viên.
Thông qua 162 phiếu khảo sát đã chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học tập tại một cơ sở giáo dục đại học của sinh viên Malaysia tại một tổ chức giáo dục đại học gồm: chi phí giáo dục; bằng cấp (nội dung và cấu trúc); khía cạnh vật chất, cơ sở vật chất và nguồn lực; giá trị giáo dục; thông tin tổ chức; gia đình, bạn bè đồng nghiệp. Nashirah Abu Bakar, Sofian Rosbi, Hydzulkifli Hashim, Noraziah Che Arshad (2021) “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn ngành thực phẩm Halal của sinh viên tại Malaysia: Sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch” (Factors influencing student intention to choose career of halal food industry in Malaysia Using Theory of Planned Behaviour). Thái độ Ý định chọn ngành thực Chuẩn chủ quan phẩm Halal của sinh viên tại Malaysia Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu ý định chọn ngành thực phẩm Halal của sinh viên tại Malaysia Nguồn: Nashirah Abu Bakar và cộng sự (2021) Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn ngành thực phẩm Halal của sinh viên tại Malaysia. Nghiên cứu này sử dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch làm nền tảng và sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên các bạn sinh viên quan tâm đến ngành công nghiệp thực phẩm Halal tại Malaysia thông qua đó đã đưa ra 3 yếu tố: “Thái độ”, “Chuẩn chủ quan” và “Nhận thức kiểm soát hành vi”.
Kết quả nghiên cứu của các giá trị độ lệch cho các biến trong nghiên cứu này nằm trong khoảng từ -1 đến +1 biểu thị phân phối chuẩn. Kiểm định thống kê Cronbach’s alpha để đo lường độ tin cậy nội bộ đều lớn hơn 0,7 13 cho cả 4 biến. Do đó, bốn cấu trúc thể hiện độ tin cậy tốt cho thấy sự phù hợp của tính nhất quán bên trong. Tiếp theo, giá trị của R-squared cho mức độ phù hợp của mô hình trong nghiên cứu này là 0,675 cho thấy mức độ phù hợp của mô hình tốt giải thích được 67,5% phương sai trong biến phụ thuộc.
Phân tích hồi quy cho thấy Thái độ (A), Chuẩn mực chủ quan (SN) và Kiểm soát hành vi nhận thức (PBC) có ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán giá trị của Ý định (I) để chọn trong ngành thực phẩm Hala.