Chương 1 tác giả đã trình bày, khái quát sơ lược về đề tài được chọn qua đó giúp người đọc có khả năng hình dung về những vấn đề mà nghiên cứu này đạt được. Mặt khác, chương này còn đưa ra các câu nghi vấn nghiên cứu dựa trên mục tiêu nghiên cứu. Qua đó, nhằm xây dựng các giả thuyết nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố tác động đến KNSL của các CTCP làm việc trong lĩnh vực Xây dựng và bất động sản. Song đó, có thể tìm ra được đối tượng lẫn phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài.
Chương này nêu lên kết cấu của khoá luận giúp hình dung khoá luận gồm những phần nào để theo dõi một cách chặt chẽ hơn. Chương tiếp theo tác giả trình bày về lý thuyết nền tảng và các bài nghiên cứu tại Việt Nam và ngoài phạm vi Việt Nam có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các DN ngành Xây dựng và BĐS niêm yết qua sàn Chứng khoán trong phạm vi Việt Nam. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày những nội dung về khái niệm và giả thuyết có gắn bó chặt chẽ đến vấn đề cần nghiên cứu. Song đó là khảo lược những nghiên cứu khoa học đã được công bố rộng rãi trước đây ở phạm vi ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng như ở trong nước qua đó có khả năng xác định các lỗ hổng tức là khoảng trống trong nghiên cứu trước đó và đưa ra chính xác một vài yếu tố có mối quan hệ đáng kể đến KNSL của doanh nghiệp trên căn cứ đó mà đề xuất mô hình phù hợp với khoá luận.
KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm về khả năng sinh lời Mục tiêu thiết yếu của DN nào cũng muốn hƣớng tới đó là bền vững trong hầu hết môi trƣờng cạnh tranh. Để làm điều đó đƣợc thì công ty phải phát triển, thực hiện và duy trì nhiều chiến lƣợc nhằm nâng cao hiệu suất của nó. Điều này có thể đƣợc thực hiện bằng cách điều tra bên trong và bên ngoài nhân tố có thể tác động đến KNSL của công ty.
Chất lƣợng và hiệu quả của những nhà quản lý phụ thuộc vào khả năng của họ trong việc định ra rõ ràng những yếu tố có thể dẫn tới tăng lợi nhuận tức khả năng sinh lời (Bekmezci, 2015). Theo tác giả Pandey (1980) có thể hiểu rằng, Khả năng sinh lời (KNSL) là khả năng mà một DN có thể tìm kiếm đƣợc lợi nhuận nhiều nhất, bằng việc diễn giải lợi nhuận có mối liên hệ với các yếu tố khác, phân tích các biện pháp và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà DN kiếm đƣợc liên quan đến đầu tƣ của các cổ đông hoặc vốn đƣợc sử dụng trong DN hoặc liên quan đến doanh thu. Heibati và cộng sự (2009) định nghĩa về khả năng sinh lời (profitability) là sự chênh lệch giữa chi phí và doanh thu trong một khoản thời gian cố định, thƣờng là một năm tài chính. Theo Malik (2011) lập luận rằng, KNSL đó chính là một trong vô số các thƣớc đo, cũng đồng thời trong quản lý tài chính nó là mục tiêu trọng yếu nhất.
Việc tối đa hoá tạo ra rất nhiều của cải của chủ sở hữu và KNSL là yếu tố quyết định cực kỳ quan trọng của hiệu suất, cả hai điều này chính là mục tiêu mà nhà quản lý đặt 8 ra. Ngoài ra, KNSL có mối liên quan chặt chẽ đến lợi nhuận nhƣng có điểm riêng biệt chính. Ấy là, trong khi khả năng sinh lời chỉ là khoản tiền với tính chất tƣơng đối thì lợi nhuận lại mang ý nghĩa là biểu hiện của một khoản tiền tuyệt đối. Khả năng sinh lời chính là thƣớc đo hiệu quả về sự thành công hoặc thất bại của doanh nghiệp đó.
Theo tác giả Bekmezci (2015) thì KNSL (tức lợi nhuận) mang nghĩa giống nhƣ thu nhập của một DN đƣợc tạo ra từ doanh thu sau khi trừ đi toàn bộ những chi phí phát sinh trong một khoảng thời gian cụ thể nhất định nào đó. KNSL còn là một trong vô số yếu tố quan trọng nhất báo hiệu sự thành công của ban quản lý, sự hài lòng của cổ đông, thu hút các nhà đầu tƣ và tính bền vững của công ty. Theo quan điểm của Pamungkas và cộng sự (2017) thì KNSL đƣợc ví nhƣ chỉ số khá quan trọng phản ánh về khả năng mà chính công ty đó có trách nhiệm cũng nhƣ nghĩa vụ thực hiện của những nhà tài trợ, và là các thành phần trong việc tạo ra đƣợc giá trị của DN đồng thởi phải bảo đảm mang đến tính bền vững lâu dài cũng nhƣ quyết định triển vọng của công ty trong tƣơng lai. Tóm lại, khả năng sinh lời là năng lực mà doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận nhiều nhất trong khoảng thời gian nhất định và cũng đƣợc dùng làm chuẩn nhằm xác định giá trị về sự thành công của ban lãnh đạo.
Chỉ tiêu đo lƣờng khả năng sinh lời của doanh nghiệp Theo Nguyễn Ngọc Quang, (2011) và Nguyễn Văn Công (2009) thì có bốn chỉ số nhằm đánh giá KNSL của doanh nghiệp là tỷ suất sinh lời (TSSL) trên tổng tài sản (ROA), TSSL trên vốn chủ sở hữu (ROE), TSSL trên chi phí đầu tƣ (ROI) và TSSL trên doanh thu (ROS) bao gồm: 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản TSSL đƣợc định nghĩa nhƣ một chỉ số qua đó phản ánh tình hình về sức khỏe tài chính của hầu hết các doanh nghiệp, đánh giá đƣợc rằng DN ấy có hoạt động tốt hay xấu, và làm những cách thế nào mà qua đó có khả năng giúp doanh nghiệp đạt đƣợc hiệu quả tốt trong việc quản lý tài sản của riêng mình (Lesakova ,2007). Đối với TSSL trên tổng tài sản hay lợi nhuận trên tài sản (ROA: return on assets) đƣợc ví nhƣ một chỉ số về tài chính nhằm đo lƣờng khả năng sinh lời của 9 một DN nào đó so với tổng tài sản của chính công ty ấy. Kết quả của chỉ tiêu liên quan đến TSSL trên tổng tài sản cho biết rằng cứ một đồng tài sản bình quân sinh ra đồng thời đƣợc dùng với mục đích phục vụ trong quá trình để sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì sẽ làm ra hay thu về đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận đó.
Chính vì thế, chỉ số này cho các doanh nghiệp biết rõ ràng cách thức dùng tài sản của chính doanh nghiệp để có thể kiếm tiền lời một cách hiệu quả nhất có thể (Nguyễn Ngọc Quang, 2011). Tỷ lệ này với cách tính toán bằng việc đó chính là lấy số liệu về lợi nhuận sau thuế hàng năm của công ty chia cho tổng tài sản bình quân. Dữ liệu của thu nhập ròng hay lợi nhuận sau thuế đƣợc lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, còn tổng tài sản đƣợc lấy từ bảng cân đối kế toán trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Công thức đƣợc xác định nhƣ sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản bình quân Có khá nhiều các nghiên cứu đã sử dụng qua ROA là cách nhằm đo lƣờng về mức sinh lời của các DN nhƣ nghiên cứu của Brigham và Houston (2006), Malik (2011), Le, T.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Đối với TSSL trên vốn chủ sở hữu hay lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE: return on equity) là TSSL dùng để biết khả năng mà chính công ty đó tạo ra hoặc tìm kiếm lợi nhuận bằng cách thức ấy là so sánh lợi nhuận sau thuế từ vốn tự có sở hữu (Chabachib, M. Sự phản ánh về năng lực hay khả năng sử dụng đồng vốn dùng với mục đích sinh lời thông qua quá trình mà các hoạt động về kinh doanh diễn ra của các DN thì chính sự phản ánh này đƣợc biểu hiện qua chỉ tiêu về TSSL trên vốn chủ sở hữu (VCSH) với tên gọi khác là lợi nhuận trên VCSH. Việc mà phân tích KNSL của VCSH nhằm giúp thấy rõ ràng rằng khi một đồng VCSH đƣợc sản sinh ra thì sẽ tạo nên đƣợc bao nhiêu đồng về lợi nhuận sẽ tạo ra đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc xem xét chỉ tiêu này có một ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận hay 10 tối đa hoá quy mô (Phan Thu Hiền và Nguyễn Nhật Hà, 2021).
Tỷ lệ này đƣợc tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế hàng năm của công ty chia cho vốn chủ sở hữu bình quân. Dữ liệu của lợi nhuận sau thuế đƣợc tổng hợp lại qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, còn vốn chủ sở hữu đƣợc tập hợp từ bảng cân đối kế toán trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Công thức đƣợc xác định nhƣ sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân Có nhiều nghiên cứu cũng sử dụng ROE là thƣớc đo thông dụng dùng với mục đích nhằm đo lƣờng về mức sinh lời của DN nhƣ nghiên cứu của Alarussi & Alhaderi, 2018; Chander & Aggarwal, 2008 và Chabachib, M. Tỷ suất sinh lời trên chi phí đầu tư Đối với TSSL trên chi phí đầu tƣ hay lợi nhuận trên chi phí đầu tƣ (ROI: return on investment) là thƣớc đo gần đúng về KNSL của một khoản đầu tƣ ban đầu và không tính đến thời gian đầu tƣ đƣợc giữ.
Lợi nhuận trên chi phí đầu tƣ đƣợc biểu thị dƣới dạng phần trăm vì nó dễ hiểu hơn so với dƣới dạng số thông thƣờng và lợi nhuận từ một khoản đầu tƣ có thể dƣơng hoặc âm. Lợi nhuận trên chi phí đầu tƣ đƣợc tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế hàng năm của công ty chia cho chi phí đầu tƣ. Công thức định ra rõ ràng nhƣ sau: Lợi nhuận sau thuế ROI = Chi phí đầu tư Có một vài nghiên cứu sử dụng ROI là thƣớc đo dùng với mục đích đó là đo lƣờng mức sinh lời của DN nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang (2011) và Nguyễn Văn Công (2009) và Nguyễn Thị Lan Anh và nnk (2021). Tỷ suất sinh lời trên trên doanh thu Đối với TSSL trên doanh thu hay lợi nhuận trên doanh thu (còn gọi là ROS: return on sales) là thƣớc đo gần đúng về KNSL của một khoản đầu tƣ đầu tiên.
Lợi nhuận trên doanh thu đƣợc tính bằng lợi nhuận trƣớc thuế (hay còn gọi EBIT) hàng năm của công ty chia cho doanh thu.