đặt vấn đề nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Thanh Khôi. Từ đó đưa ra mục tiêu cần nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu. Tác giả cũng xác định đối tượng, phạm vi và nêu ý nghĩa nghiên cứu để làm cơ sở phân tích trong các chương tiếp theo. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra các nội dung chính về cấu trúc của bài nghiên cứu.
4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (Doanh nghiệp đang áp dụng chế độ kế toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC) Trong chương này, tác giả giới thiệu lại khái quát về một số công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước với các vấn đề liên quan đến hệ thống KSNB, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống. Lược khảo tài liệu 2. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 2. Nghiên cứu về môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát được cho là một yếu tố quan trọng trong hệ thống KSNB của đơn vị, môi trường kiểm soát cấu thành văn hóa của một đơn vị, nó có tác động đến ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị, là yếu tố hạt nhân cho các yếu tố khác của hệ thống KSNB (Ramos, 2004).
Tác giả Ramos cũng cho rằng, môi trường kiểm soát được cấu thành từ nhiều nhân tố, bao gồm: yếu tố văn hóa doanh nghiệp, yếu tố phân cấp quyền lực, yếu tố chất lượng của các ủy ban kiểm toán, yếu tố tính liêm chính và đạo đức (D’Aquyla, 1998 và Ramos, 2004). Theo tác giả Rae và Subramaniam (2006), con người là nhân tố cốt lõi của các tổ chức, vì họ chính là nhân tố điều khiển tổ chức. Các tác giả này nhận định rằng các thuộc tính cá nhân của con người như: tính liêm chính, các giá trị đạo đức, thẩm quyền là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức. Nghiên cứu về đánh giá rủi ro Tác giả Lannoye (1999) trong nghiên cứu của mình cho rằng, mỗi doanh nghiệp có một phương pháp giải quyết vấn đề khác nhau, nhưng các phương pháp đó phải được thiết kế sao cho có thể quản lý rủi ro thông qua sự đảm bảo hợp lý và xem xét cân đối giữa chi phí và lợi ích.
Tác giả Walker (1999) muốn ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro nhà quản lý cần quản lý rủi ro khi có sự thay đổi xảy ra. Các đề xuất thay đổi về quản trị rủi ro trong đơn vị phải được nhà quản lý thông báo đến nhân viên phụ trách trực tiếp. Các nguy cơ có thể tạo ra những rủi ro mới phải được nhà quản lý giám sát liên tục. Nghiên cứu các hoạt động kiểm soát Nghiên cứu của tác giả Jenkin-son (2008) cho rằng, để đạt được các mục tiêu của đơn vị một cách hiệu quả thì các hoạt động kiểm soát phải được thiết lập và thực thi.
Hoạt động kiểm soát được định nghĩa là các chính sách và thủ tục được nhà quản lý thiết kế ra, 5 để đảm bảo rằng các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện một cách triệt để, các hoạt động kiểm soát bao gồm: hoạt động phê duyệt, hoạt động ủy quyền, hoạt động xác minh, hoạt động đối chiếu, hoạt động đánh giá hiệu suất hoạt động, hoạt động phân công nhiệm vụ,… Nghiên cứu của tác giả Ramos (2004) chỉ ra rằng, để kiểm tra tính chính xác và đầy đủ của thông tin cũng như sự ủy quyền của các giao dịch thì một loạt các hoạt động kiểm soát cần phải được thực hiện. Nghiên cứu về giám sát Nhân tố giám sát được coi là một nhân tố quan trọng nhất của hệ thống KSNB trong bất kỳ đơn vị nào. Nghiên cứu của tác giả Springer (2004) cho rằng, giám sát là công việc đánh giá hiệu suất của hệ thống KSNB. Nó được các bộ phận liên quan thực hiện một cách liên tục và độc lập.
Thực hiện công tác giám sát là để đảm bảo rằng các công việc của KSNB đều được tiến hành đúng đắn, đầy đủ và hiệu quả như thiết kế ban đầu. Giám sát là công việc thường xuyên để khẳng định rằng các thủ tục kiểm soát được thực hiện theo đúng yêu cầu đề ra (Muhota, 2005). Nhằm đảm bảo tính chính xác của các giao dịch được thể hiện trong BCTC về giám sát các khoản vay, các công cụ giám sát được sử dụng nhiều trong các tổ chức là: đối chiếu, kiểm tra nội bộ và kiểm toán (Diamond, 1984). Nghiên cứu về thông tin và truyền thông Các tác giả Steihoff (2001) và Hevesi (2005) trong khi nghiên cứu về thông tin và truyền thông đã cho rằng nó là yếu tố quan trọng có tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB.
Tất cả các thông tin được truyền đạt từ trên xuống về các kế hoạch, các rủi ro và hoạt động kiểm soát áp dụng trong đơn vị. Thông tin từ bên trong và bên ngoài đơn vị phải được kiểm định tính tin cậy, sau đó được các bộ phận chức năng xử lý và thông báo một cách kịp thời. Thông tin sau khi được sự cho phép của ban quản trị sẽ được truyền thông tới các bộ phận và cá nhân để thực hiện chức năng của mình. Thông tin và truyền thông giúp các nhân viên nhận thấy được chức năng và vai trò của mình trong hệ thống KSNB.
Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lý (2016): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Dựa trên các tài liệu đã nghiên cứu của các chuyên gia, kế thừa các nghiên cứu khảo sát và trên nền tảng khuôn mẫu lý thuyết COSO 2013, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám 6 sát. Từ đó, tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và được điều chỉnh, bổ sung sau khi đã thảo luận, tham khảo ý kiến chuyên gia có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
Thang đo tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong nghiên cứu là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 5 biến quan sát. Để đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, tác giả đo lường bằng cách tính điểm trung bình các biến độc lập ảnh hưởng và đo lường trực tiếp tính hữu hiệu của hệ thống KSNB thông qua tiến hành thực hiện 207 mẫu khảo sát với các đối tượng là cửa hàng trưởng, nhân viên bán hàng và một số nhân viên bộ phận khác. Kết quả đều cho thấy tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ Việt Nam nằm ở mức trung bình khá với giá trị là 3,66. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2017): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tác giả tiến hành kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Dựa trên việc kế thừa các kết quả nghiên cứu trước, kết hợp với các nghiên cứu đặc điểm, đặc thù của nền kinh tế Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả đề xuất mô hình gồm 5 nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Dựa trên các tiêu chí về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB được quy định bởi COSO (2013) và tham khảo nghiên cứu trước đây, đặc biệt là từ bài nghiên cứu của tác giả Hồ Tuấn Vũ (2016), tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Thang đo tính hữu hiệu trong nghiên cứu là thang đo bậc 1, được đo lường bởi 5 biến quan sát.
Tác giả đã tiến hành 195 mẫu khảo sát với ba nhóm đối tượng chính là chủ doanh nghiệp, nhà quản lý và kế toán trưởng. Kết quả cho thấy tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh nằm ở mức khá. Bên cạnh đó, tác giả đã xác định mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB theo thứ tự giảm dần lần lượt là: hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, đánh giá rủi ro, giám sát, môi trường kiểm soát. Lý giải cho kết quả này, tác giả không những đưa ra những số liệu cụ thể mà đi kèm với đó là những lập luận bám sát thực tiễn.
Tác giả cho rằng khi các hoạt động kiểm soát được thực hiện chặt chẽ sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất đúng tiến độ, chất lượng sản phẩm được đảm bảo, tránh tổn thất tài sản, hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đã đề ra. Từ đó, tác giả nêu ra giải pháp để phát huy tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Đó là việc phải xác định rõ thực trạng và nhu cầu của đơn vị. Điều này đòi hỏi nhà quản lý cần xem xét mối quan hệ giữa lợi ích của việc áp dụng hệ thống KSNB để có những quyết định phù hợp, định hướng đúng đắn, hướng đến mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.
Tổng quát về kiểm soát nội bộ 2. Khái niệm về kiểm soát Hiện nay, có nhiều nghiên cứu và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về kiểm soát, tác giả xin đề cập đến một số quan điểm về kiểm soát như sau: Kiểm soát: là quyền chi phối các chính sách tài chính và chính sách hoạt động của đơn vị nhằm thu được lợi ích từ các hoạt động của đơn vị đó (thuật ngữ được định nghĩa trong 21 Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) trên cơ sở dồn tích trong bản phát hành ngày 31 tháng 12 năm 2003). Theo Schoderbek, Peter P. Cosier and John C.
Aplin (1988), kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa lệch lạc từ tiêu chuẩn. Với định nghĩa này có thể thấy kiểm soát chính là việc xây dựng các tiêu chuẩn, sau đó sẽ đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn đã được thiết lập và cuối cùng sẽ chỉnh sửa các sai lệch (nếu có).