Chương 1: Tổng quan về đề tài. Trong chương này bao gồm các nội dung sau: Lý do chọn 4 đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Phạm vi nghiên cứu; Ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận. Nội dung của chương này là trình bày các khái niệm; Cơ sở lý luận liên quan đến hành vi thanh toán VĐT; Xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu của đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xác định yếu tố và đo lường mức độ tác động của từng yếu tố tác động lên hành vi sử dụng thanh toán VĐT. Trình bày chi tiết các bước thực hiện khảo sát và cách thu thập phân tích số liệu khảo sát. Chương 4: Phân tích dữ liệu.
Từ những dữ liệu có được ở chương 3 tác giả tiến hành kiểm định độ tin cậy và độ chuẩn xác của dữ liệu bằng phần mềm SPSS. Từ đó, trình bày kết quả chi tiết về các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng thanh toán VĐT và lý do tiếp tục sử dụng thanh toán VĐT. Chương 5: Kết luận. Dựa vào kết quả phân tích ở chương 4, tác giả đưa ra khuyến nghị, giải pháp về thực tiến cho từng yếu tố của đề tài.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.2 Thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là hình thức thanh toán sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử ứng dụng công nghệ số như: Ví điện tử, MobileBanking, InternetBanking. hoặc thanh toán gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng thay việc người mua và người bán trực tiếp trao đổi với nhau như thông lệ hiện nay.1 Ví điện tử Ví điện tử (được gọi là ví tiền online) là một tài khoản thanh toán các giao dịch trực tuyến trên internet và là loại hình thanh toán phổ biến hiện nay như: Thanh toán tiền điện, nước, cước viễn thông, học phí, nạp tiền điện thoại, mua hàng online… từ các trang thương mại điện tử bằng số tiền khả dụng trong ví. (Tạp chí Tài chính, 2021) Theo Andrew (2015), ví điện tử là một công nghệ dựa trên ứng dụng cho phép người dùng thanh toán mua hàng, nhận và chuyển tiền thông qua thiết bị di động. Nó có chức năng tượng tự như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và yêu cầu liên kết với tài khoản ngân hàng của cá nhân để thực hiện thanh toán.
Yếu tố tiện lợi của ví điện tử là cung cấp các dịch vụ hiện đại.2 Chức năng của ví điện tử Ví điện tử có chức năng chính là thanh toán nên khi sử dụng, bạn sẽ nhận được rất nhiều tiện ích mà nó mang lại: - Nhận và chuyển tiền: Sau khi đăng ký và kích hoạt thành công thì tài khoản VĐT đó có thể nhận tiền chuyển vào từ nhiều hình thức khác nhau như: Nạp tiền trực tiếp tại quầy giao dịch của doanh nghiệp cung ứng VĐT, nạp tiền tại quầy giao dịch ngân hàng kết nối với doanh nghiệp cung ứng VĐT, nạp tiền từ tài khoản VĐT cùng loại, nạp tiền trực tiếp từ tài khoản ngân hàng… Và khi có tiền trong tài khoản VĐT, chủ tài khoản VĐT có thể chuyển sang VĐT cùng loại, chuyển sang tài khoản ngân hàng có liên kết hoặc chuyển cho người thân/bạn bè theo đường bưu điện và các chi nhành ngân hàng khác. 6 - Lưu trữ tiền mặc trên tài khoản điện tử: Khách hàng có thể sử dụng VĐT làm nơi lưu trữ tiền dưới dạng số hóa (tiền điện tử) một cách an toàn và tiện lợi. Và số tiền ghi nhận trên tài khoản VĐT tương đương với giá trị tiền thật chuyển vào. - Thanh toán trực tuyến: khi đã có tiền trong tài khoản VĐT thì khách hàng cũng có thể sử dụng số tiền này để thanh toán các giao dịch mua sắm trực tuyến trên các gian hàng/website thương mại điện tử tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài có tích hợp chức năng thanh toán bằng VĐT đó.
- Truy vấn tài khoản: Với chức năng này, chủ đổi về thông tin cá nhân, mật khẩu, tra cứu số VĐT của mình tài khoản VĐT có thể thực hiện các thay dư, xem lịch sử giao dịch trong tài khoản - Ngoài ra các doanh nghiệp cung ứng VĐT tại Việt Nam hiện nay còn phát triển và tích hợp thêm nhiều chức năng phụ khác nhằm đem lại nhiều tiện ích hơn cho khách hàng khi sử dụng VĐT, như: - Thanh toán hóa đơn: Các doanh nghiệp cung ứng VĐT đã mở rộng liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp cung ứng các dịch vụ sinh hoạt thiết yếu như card điện thoại, internet, điện lực, nước, truyền hình, …cho phép khách hàng có thể thanh toán các loại hóa đơn sinh hoạt này thông qua tài khoản VĐT một cách chủ động và thuận tiện. - Nạp thẻ cào điện thoại, thẻ game online, trả phí tham gia diễn đàn: Khi sở hữu VĐT tử người dùng Internet cũng có thể sử dụng tiền trong tài khoản VĐT để chi trả những khoản phí nhỏ cho các dịch vụ nội dung số trên Internet dễ dàng, nhanh chóng với chi phí thấp hơn so với các phương thức thanh toán điện tử khác. - Mua vé điện tử: Với sự gia tăng nhu cầu mua vé điện tử như vé máy bay, vé tàu, vé xe, vé xem phim, ca nhạc, …các doanh nghiệp cung ứng VĐT đã mở rộng thêm chức năng mau vé điện tử nhằm đáp ứng nhu cầu và gia tăng tiện ích cho người dùng VĐT. - Thanh toán học phí: Khi sử dụng VĐT người dùng có thể thanh toán học phí cho các khóa học online, đào tạo từ xa, …một cách dễ dàng và tiện lợi.
- Thanh toán đặt phòng: Hiện nay một số doanh nghiệp cung ứng VĐT tại Việt Nam đã liên kết với các trang đặt phòng khách sạn để tích hợp chức năng thanh toán tiền đặt phòng trực tuyến cho khách hàng có tài khoản VĐT. 7 - Mua bảo hiểm ôtô- xe máy….3 Các mô hình nghiên cứu lý thuyết Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) Nhằm giải thích hành vi sử dụng của cá nhân trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Fred Davis (1989) đã giới thiệu mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) dựa trên thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen & Fishbein. Trong mô hình chấp nhận công nghệ, Davis đã thay thế hai biến thái độ và chuẩn chủ quan bằng hai biến khác là Cảm nhận hữu ích (Perceived Usefullness) và Cảm nhận dễ sử dụng (Perceived Ease of Use). Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Nguồn: Fred Davis (1989) Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được áp dụng để nghiên cứu về hành vi sử dụng trong nhiều lĩnh vực công nghệ và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.
Tuy nhiên, mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) cũng có những hạn chế nhất định. Sun & Zhang (2006) và Venkatesh et al. (2003) đã chỉ ra hai nhược điểm chính trong mô hình TAM. (1) Độ giải thích của mô hình không cao và (2) Mỗi tương quan giữa các nhân tố trong mô hình bị mâu thuẫn trong các nghiên cứu với lĩnh vực và đối tượng khác nhau.
Sau khi thu thập kết quả nghiên cứu từ 55 bài báo, Sun & Zhang (2006) và Venkatesh et al. (2003) thấy rằng hệ số phù hợp của mô hình (R2) đạt trung bình 40%, mối tương quan giữa các nhân tố không phải lúc nào cũng đạt như trong đề xuất của mô hình TAM. Lee et al. (2003) còn chỉ ra một nhược điểm của mô hình TAM là chỉ được áp dụng khi nghiên cứu một loại công nghệ, một đối tượng và một thời điểm nhất định.
8 Để hạn chế các nhược điểm trên, Venkatesh và Davis (2000) đã nghiên cứu và đề xuất mô hình mới TAM2. TAM2 – là mô hình mở rộng của TAM nhưng có thêm vào các biến liên quan đến các ảnh hưởng xã hội (Chuẩn chủ quan, Sự tự nguyện và Hình ảnh) và liên quan đến nhận thức về phương tiện (Phù hợp với công việc, Chất lượng đầu ra và Tính minh chứng của kết quả). Mô hình chấp nhận công nghệ 2 (Extension of the Technology Acceptance Model– TAM2) Nguồn: Venkatesh và Davis (2000) Các nhân tố chính trong TAM2 được định nghĩa như sau: Cảm nhận hữu ích: mức độ mà cá nhân tin rằng sử dụng hệ thống công nghệ giúp người dùng nâng cao hiệu quả công việc. Cảm nhận dễ sử dụng: cảm nhận của cá nhân về mức độ dễ dàng khi sử dụng hệ thống công nghệ.
Chuẩn chủ quan: cảm nhận hầu hết những người quan trọng với người dùng cho rằng người dùng nên/không nên thực hiện hành vi trong mục hỏi. Hình ảnh: mức độ cảm nhận của cá nhân rằng vị thế xã hội của người dùng được nâng cao khi sử dụng công nghệ mới Phù hợp với công việc: cảm nhận của cá nhân về mức độ phù hợp của hệ thống công nghệ với công việc của người dùng. 9 Chất lượng đầu ra: mức độ mà cá nhân tin rằng hệ thống công nghệ hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong công việc của người dùng. Tính minh chứng kết quả: tính hữu hình của các kết quả khi sử dụng công nghệ mới.
Ý định hành vi: mức độ mà cá nhân xây dựng các kế hoạch để thực hiện/không thực hiện một hành vi cụ thể trong tương lai. Sự tự nguyện: mức độ mà mà những người dùng tiềm năng cảm nhận rằng quyết định sử dụng là không bắt buộc. Thuyết nhận thức rủi ro (Theory of Perceived Risk – TPR) Trong thuyết nhận thức rủi ro của Bauer (1960) cho rằng hành vi tiêu dùng những sản phẩm liên quan đến công nghệ thông tin có sự ảnh hưởng lớn từ nhận thức rủi ro. Nhận thức rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn và hơn nữa là những hậu quả mà có thể được gây ra bởi hành động của người tiêu dùng.
Qua nghiên cứu của Bauer, đã chứng minh rằng ý định của người dùng công nghệ thông tin chịu ảnh hưởng bởi nhận thức rủi ro, bao gồm hai yếu tố: Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến và nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm dịch vụ. Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến (PRT) Hành vi mua (PB) Hình 3. Thuyết nhận thức rủi ro của Bauer (TPR) Nguồn: Bauer (1960) Mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB) Taylor và Todd (1995) đã xây dựng một mô hình lai bằng cách kết hợp các nhân tố của Thuyết hành vi kế hoạch (TPB) với các nhân tố trong mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). 10 Mô hình này còn được gọi là thuyết hành vi kế hoạch được phân tách (Decomposed Theory of Planned Behavior), bởi vì các nhân tố niềm tin được phân tách trong mô hình này.