Chương 1 đã giới thiệu được tính cấp thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đưa ra những đóng góp về mặt khoa học, thực tiễn được phân tích nhằm làm rõ giá trị của đề tài. Từ cơ sở đó, chương tiếp theo sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm xanh 2.1 Sản phẩm xanh Sản phẩm xanh là sản phẩm góp phần làm bền vững thế giới bằng cách bảo vệ và bảo tồn môi trường sống tự nhiên và không gây ô nhiễm trái đất hay tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên (Shamdasani và c. Trong nghiên cứu của Schlegelmilch và c.
(1996), sản phẩm xanh là những sản phẩm không gây ô nhiễm cho trái đất hay phá hủy tài nguyên thiên nhiên bao gồm các sản phẩm có sử dụng nguyên liệu có thể tái chế, không thử nghiệm trên động vật, thân thiện với môi trường, các loại rau quả được trồng bằng chất hữu cơ, các sản phẩm không gây ảnh hưởng đến tầng ozone và tiết kiệm năng lượng. Một nghiên cứu khác của hai tác giả Chen và Chai (2010) cho rằng sản phẩm xanh là sản phẩm sử dụng vật liệu ít độc hại và có thể tái chế hoặc sử dụng ít bao bì để giảm các ảnh hưởng đến môi trường. Theo Ottman (1998, trang 89) trích trong Durif và c. (2010), một tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực tiếp thị xanh đã định nghĩa sản phẩm xanh: “Sản phẩm xanh thường bền, không độc hại, được làm bằng vật liệu tái chế, hoặc đóng gói tối thiểu.
Tất nhiên, không có sản phẩm xanh hoàn toàn vì chúng đều sử dụng hết năng lượng và nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm và khí thải trong quá trình sản xuất, vận chuyển đến kho và cửa hàng, sử dụng và xử lý cuối cùng. Vì vậy, sản phẩm xanh chỉ là tương đối, là sản phẩm có ít ảnh hưởng đến môi trường hơn so với những sản phẩm thay thế của sản phẩm xanh”. Như vậy, chúng ta rất khó để tìm thấy một sản phẩm được coi là thân thiện với môi trường một cách tuyệt đối mà chỉ tồn tại những sản phẩm thân thiện với môi trường một cách tương đối. cho rằng sản phẩm xanh là những sản phẩm sử dụng các vật liệu có thể tái chế, giảm thiểu tối đa phế thải, giảm sử dụng nước và năng lượng, tối thiểu bao bì và thải ít chất độc hại ra môi trường.
Nói cách khác, sản phẩm xanh là sản phẩm kết hợp các chiến lược tái chế hoặc với tái chế nội dung, giảm bao bì hoặc sử dụng các vật liệu ít độc hại hơn để giảm ảnh hưởng lên môi trường tự nhiên. Trong nghiên cứu của mình, Elkington và Makower (1988) và Wasik (1996) cho rằng, một sản phẩm có chất liệu hoặc bao bì ít ảnh hưởng tới môi trường cũng có 6 thể được xem là một sản phẩm xanh. Còn đối với Terra Choice (2010) định nghĩa sản phẩm xanh là sản phẩm cung cấp lợi ích cho môi trường. Theo Vazifehdoust và c.
(2013), sản phẩm xanh có có thể là một sản phẩm không gây ô nhiễm cho hành tinh hay gây hại đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời có thể tái chế hoặc bảo tồn. Tại Việt Nam, theo Nghị định “Về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường” năm 2009 (được trích dẫn bởi Nguyễn Bá Phước, 2015) nêu rằng: “Sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm mà trong quá trình khai khác nguyên liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi thải bỏ gây hại ít hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại và được cấp nhãn sinh thái của tổ chức được Nhà nước công nhận”. Theo Phùng Mạnh Hùng (2021), sản phẩm xanh là những sản phẩm được sản xuất có sử dụng các công nghệ thân thiện môi trường, không gây ra bất kì ảnh hưởng tiêu cực nào tới hệ sinh thái, trong đó bao gồm các đặc điểm: nuôi trồng nguyên bản, có thể tái sử dụng, dễ dàng phân hủy sinh học, bao gồm các thành phần tự nhiên không chứa chất nguy hại hoặc có thể gồm các hóa chất được kiểm duyệt và được đóng gói thân thiện môi trường. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, sản phẩm xanh được hiểu là những sản phẩm ít gây ô nhiễm hay gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, có thể tái chế và không gây hại đến sức khỏe cộng đồng.
Cụ thể, tác giả tập trung nghiên cứu ba nhóm sản phẩm phổ biến nhất đối với người tiêu dùng, là: thực phẩm hữu cơ; sản phẩm tái chế, thân thiện với môi trường và sản phẩm tiết kiệm năng lượng, hạn chế chất thải khi sử dụng. Việc lựa chọn các nhóm sản phẩm này dựa vào các lí do sau đây: Giá cả phù hợp, mức độ sẵn lòng chi trả của khách hàng: Ví dụ như các sản phẩm hữu cơ như rau sạch là những thực phẩm được sử dụng hàng ngày, khách hàng có khả năng sẽ mua nhiều lần nhằm đảm bảo sức khỏe cho gia đình và bản thân họ. Hay những sản phẩm như túi tái chế được bày bán ở các siêu thị nhằm giảm số lượng túi nilon được thải ra môi trường với giá thành rẻ cũng được ưa chuộng bởi độ bền và chắc chắn của nó. Ngoài ra, những sản phẩm tiết kiệm năng lượng có thể kể đến như xe đạp điện, pin năng lượng mặt trời, bóng đèn tiết kiệm điện… là những sản phẩm có thể sử dụng hàng ngày nên cũng được người tiêu dùng cân nhắc sử dụng khi nghĩ đến các sản phẩm thân thiện môi trường.
Tiêu dùng xanh đang là xu hướng chung của xã hội hiện đại, thế nên có thể nói 7 rằng người tiêu dùng quan tâm hầu hết các sản phẩm xanh đang có mặt trên thị trường. Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát bằng cách phỏng vấn trực tiếp một số người tiêu dùng, ba nhóm sản phẩm vừa nêu vẫn có độ nhận diện cao nhất.2 Bao bì xanh Bao bì xanh, còn được gọi là bao bì bền vững (Sustainable Packaging), sử dụng vật liệu và kỹ thuật sản xuất để giảm thiểu sử dụng năng lượng và giảm tác động có hại của bao bì đối với môi trường. Các giải pháp đóng gói xanh thường bao gồm các vật liệu có thể phân hủy sinh học và tái chế được ưu tiên hơn các vật liệu như nhựa và xốp. Và các quy trình sản xuất xanh thực hiện các bước để giảm sản lượng điện và giảm lượng khí thải nhà kính mà chúng tạo ra.
Các vật liệu có thể phân hủy và tái chế được sử dụng trong bao bì thân thiện với môi trường có thể có nhiều dạng khác nhau: - Nhựa sinh học, hay nhựa gốc thực vật. - Giấy hoặc nhựa tái chế. - Sản phẩm sau tiêu dùng, ví dụ bao bố tái chế. Việc sử dụng Bao bì xanh mang lại nhiều lợi ích cho cả người tiêu dùng và môi trường: Giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch: Bao bì xanh cố gắng sử dụng ít năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch nhất có thể để giảm lượng khí thải carbon trong quá trình sản xuất bao bì.
Giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên: Bằng cách thiết kế bao bì tối thiểu, các nhà sản xuất bao bì xanh giúp giảm tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên. Việc cắt giảm này giúp đảm bảo các nguồn tài nguyên sẽ vẫn còn trên hành tinh của chúng ta cho các thế hệ tương lai. Tăng cường sử dụng các sản phẩm tái chế: Chúng ta càng có thể tái chế nhiều vật liệu sau khi tiêu dùng, chúng ta càng lãng phí ít năng lượng hơn và ít tài nguyên hơn vào việc tạo ra bao bì hoàn toàn mới. Các sản phẩm tái chế sử dụng ít nước hơn và ít năng lượng hơn so với các sản phẩm hoàn toàn mới.
Bao bì xanh thường cố gắng đáp ứng các mục tiêu như sử dụng 100% các sản phẩm giấy tái chế sau tiêu dùng và nhựa tái chế. Các phương pháp sản xuất tiết kiệm năng lượng hơn: Thay vì dựa vào nhiên liệu hóa thạch, bao bì xanh cố gắng sử dụng năng lượng thay thế, chẳng hạn như năng 8 lượng gió hoặc năng lượng mặt trời. Tăng cường sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo: Ví dụ, thay vì sử dụng giấy có nguồn gốc từ việc chặt cây, một số nhà sản xuất bao bì xanh sử dụng giấy có nguồn gốc từ sợi nông nghiệp để thay thế. Đại dương sạch hơn và an toàn hơn: Đặc biệt, bao bì nhựa nổi tiếng là có hại cho sinh vật biển.
Theo nhóm phi lợi nhuận Plastic Oceans International, hơn 8 triệu tấn nhựa được đổ vào đại dương của chúng ta mỗi năm. Kết quả của việc đổ rác này, các nhà sinh vật học đã tìm thấy một trong số ba loài động vật có vú biển vướng vào nhựa, và đáng kinh ngạc là 90% loài chim biển có mảnh nhựa nằm trong dạ dày của chúng. Việc sử dụng các nguồn đóng gói thay thế sẽ giúp giảm thiểu những điều kiện đáng tiếc này.3 Tiêu dùng xanh Trong bối cảnh hiện nay, hàng loạt các vấn đề môi trường được phát hiện, con người phải đối diện với rất nhiều vấn đề liên quan tới môi trường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường hay cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Xu hướng tiêu dùng xanh đã trở thành xu hướng tiêu dùng của toàn nhân loại, là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Mặc dù, thuật ngữ tiêu dùng xanh xuất hiện từ các nước phương Tây từ những năm 1960 nhưng tại Việt nam thuật ngữ này mới bắt đầu được chú ý trong những năm gần đây. Tiêu dùng xanh là khái niệm được đưa ra sau khi việc san xuất và tiêu dùng dựa vào chủ yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến nhiều hệ quả như việc khai thác cạn kiệt rừng, nguồn nước, nguồn thủy hải sản và mất dần tính đa dạng sinh học (Ngô Thị Duyên và Phạm Thị Ngoan, 2019). Trong nghiên cứu của Jaiswal (2012), tiêu dùng xanh nói tới sự sẵn sàng mua những sản phẩm thân thiện với hệ sinh thái, những sản phẩm mà thành phần và cách thức sản xuất có tác động nhỏ nhất đến môi trường. Ngoài ra, tiêu dùng xanh cũng được hiểu là quyết định mua hay không mua dựa trên tiêu chuẩn môi trường và xã hội (Peattie, 2001).