Chương 1, tác giả chủ yếu trình bày về mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra, đề tài đã trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tác giả tiếp tục tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan đến ý định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng đối với ngành thực phẩm tại Đồng Nai. Trong chương tiếp theo, cơ sở lý thuyết về sản phẩm xanh bao gồm ý định mua, lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết hành vi hoạch định sẽ được tổng hợp, dựa trên cơ sở đó, giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu sẽ được đề xuất.
5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về tiêu dùng xanh 2.1 Các khái niệm Sản phẩm xanh: Sản phẩm xanh (sản phẩm sinh thái hay sản phẩm thân thiện với môi trường) được nhiều nhà nghiên cứu xây dựng định nghĩa, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Zhujunxuan (2019) định nghĩa sản phẩm xanh là sản phẩm cung cấp một lợi ích môi trường, định nghĩa sản phẩm xanh là sản phẩm không gây ô nhiễm cho Trái đất hoặc tổn hại tài nguyên thiên nhiên và có thể tái chế, bảo tồn. Paul và cộng sự (2016) cho rằng một sản phẩm có chất liệu hoặc bao bì ít tác động tới môi trường cũng có thể được xem là một sản phẩm xanh. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, sản phẩm xanh được xem xét là các sản phẩm ngăn chặn, giảm, hạn chế hoặc cải thiện ảnh hưởng tới môi trường nước, không khí và đất và các sản phẩm không gây hại hoặc tốt cho sức khỏe cộng đồng.
Tiêu dùng xanh: Khái niệm tiêu dùng xanh lần đầu tiên được nhắc đến năm 1970 và từ đó nhiều nghiên cứu đã mở rộng khái niệm này. Cho đến nay tiêu dùng xanh vẫn được định nghĩa bằng nhiều cách. Zhao và cộng sự (2014) đưa ra định nghĩa khá toàn diện về tiêu dùng xanh với quan điểm là một quá trình thông qua những hành vi xã hội như: Mua các loại thực phẩm sinh học, tái chế, tái sử dụng, hạn chế dùng thừa và sử dụng hệ thống giao thông thân thiện. tác giả giải thích rằng tiêu dùng xanh liên quan đến những chỉ số khoa học về sử dụng năng lượng và thải khí CO2.
Theo Paul và cộng sư (2016) cho rằng mua sản phẩm thân thiện với môi trường được gọi là tiêu dùng xanh. Theo người Trung Quốc, tiêu dùng xanh là một khái niệm với 3 áp dụng. Dưới khái niệm này, mọi người được khuyến khích để chọn các sản phẩm xanh không gây ô nhiễm môi trường và tốt cho sức khỏe cộng đồng, rác thải được xử lý đặc biệt để không gây ô nhiễm môi trường và hiểu biết của xã hội về tiêu dùng làm tăng nhận thức của xã hội về một lối sống khỏe mạnh, bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng trong nỗ 6 lực để có được một cuộc sống thoải mái hơn. Mục đích cuối cùng là đạt được tiêu dùng bền vững của đất nước.
Trên thế giới hiện nay chưa có sự thống nhất trong định nghĩa về tiêu dùng xanh. Tùy thuộc vào đối tượng, mục đích thuộc các lĩnh vực khác nhau mà cách tiếp cận khái niệm này cũng khác. Wang (2017) giải thích tiêu dùng xanh có liên qua đến các dấu hiệu khoa học như sử dụng năng lượng và phát thải khí Cacbon. Việc mua các sản phẩm thân thiện với môi trường là tiêu dùng xanh.
Tiêu dùng xanh không những là tiêu dùng ít đi mà còn là tiêu dùng hiệu quả hơn. Tiêu dùng xanh thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường thông qua việc lựa chọn các sản thẩm thân thiện môi trườ ng, có cách tiêu dùng và xử lý rác thải hợp lý. Cũng đưa trách nhiệm của người tiêu dùng vào định nghĩa tiêu dùng xanh, tuy nhiên một số nghiên cứu của Zhao và cộng sự (2014) chỉ ra tiêu dùng xanh là sự thể hiện trách nhiệm đối với môi trư ờng hoặc cũng có thể là trách nhiệm với xã hội, nghĩa là có thể bao hàm cả trách nghiệm đối với các giá trị thuộc về con người (ví dụ vì sức khỏe cộng đồng, công bằng thương mại…). Người tiêu dùng xanh: Viện quốc tế về phát triển bền vững, trong cuốn hướng dẫn toàn cầu - International Institute for Sustainable Development: A global guide (2013) về đối tượng có nhiều khả năng là người tiêu dùng của sản phẩm xanh, có ý định mạnh đối với việc tiêu thụ sản phẩm xanh (Trần Văn Cường (2018).
Nhóm phản hồi tích cực nhất đối với tiêu dùng xanh thường là những người đã trưởng thành đặc biệt là những người đã có gia đình và có con. Phụ nữ cũng thường là nhóm người tiêu dùng chủ đạo của sản phẩm xanh vì họ thường đóng vai trò mua sắm thay cho đàn ông. Các người tiêu dùng tiêu dùng sản phẩm xanh cũng thường là những người có thu thập cao. Về cơ bản những người tiêu dùng xanh thường là người có tri thức và đề cao giá trị sống, họ hiểu các chứng cứ có thể hỗ trợ cho các khiếu nại về môi trường.
7 Ý định và hành vi tiêu dùng xanh: Ý định tiêu dùng phản ánh niềm tin của người tiêu dùng liên quan đến chuỗi hành vi tiêu dùng (Ajzen, 2002) và nó được mô tả như là một động lực cá nhân trong nhận thức kế hoạch/quyết định của anh/cô ấy để phát huy nỗ lực trong việc thực hiện một hành vi cụ thể. Hầu hết các hành vi của con người có thể dự đoán được dựa trên những ý định bởi vì những hành vi là tuân theo ý chí và dưới sự kiểm soát của ý định. Luận văn này sử dụng khái niệm ý định của Ajzen và các đồng nghiệp (2002): Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước. Nó được giả định là tiền đề trung gian của hành vi.
Hành vi tiêu dùng xanh: Có nhiều khái niệm về hành vi tiêu dùng xanh, cơ bản được phát triển dựa trên khái niệm hành vi tiêu dùng và khái niệm sản phẩm xanh. Tổng kết lại thì hành vi tiêu dùng xanh là một chuỗi các hành vi; bao gồm: mua sản phẩm xanh, sử dụng xanh (chẳng hạn như tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh và xử lý rác thải).2 Tầm quan trọng của sản phẩm xanh Mối quan tâm đến các sản phẩm xanh, hay còn gọi là sản phẩm thân thiện với môi trường đã và đang phát triển phổ biến trong những năm gần đây. Mối quan tâm này được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó bao gồm: nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xanh gia tăng, nguồn cung cấp bởi các công ty gia tăng, các trường đại học phát triển mở rộng các khóa học tiếp thị xanh, và sự gia tăng các nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận liên quan đến khái niệm sản phẩm xanh trong nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng.
Người tiêu dùng đang đặt câu hỏi về bản chất xanh của sản phẩm xanh trên thị trường. Do đó, trong bài nghiên cứu này, tác giả trình bày tóm tắt các định nghĩa về sản phẩm xanh hay còn gọi là sản phẩm thân thiện với môi trường từ các nghiên cứu trước đây (Wang, 2017). Ban đầu, thân thiện môi trường, thân thiện sinh thái hay thân thiện thiên nhiên là những thuật ngữ được sử dụng đối với các loại sản phẩm cố gắng tối thiểu hóa các ảnh hưởng có hại cho môi trường. Thuật ngữ sản phẩm thân thiện môi trường lần đầu tiên được định nghĩa ở cấp độ quốc tế là do diễn đàn 8 Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc UNTAD đưa ra vào năm 1995, theo đó “sản phẩm thân thiện môi trường là sản phẩm ít gây hại cho môi trường hơn ở một số giai đoạn trong vòng đời sản phẩm hơn các sản phẩm truyền thống, hoặc các sản phẩm có những đóng góp trong việc bảo tồn môi trường”.
Cùng với khái niệm các sản phẩm nhạy cảm đối với môi trường, trong thương mại quốc tế hiện nay cũng bắt đầu xuất hiện một thuật ngữ khác là “Sản phẩm thân thiện với môi trường”. Đây là nhóm sản phẩm mà quá trình sản xuất, tiêu thụ và thải bỏ không ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường (hoặc nếu có thì cũng nhẹ hơn so với tác động tới môi trường của các sản phẩm tương tự cùng loại). Xét trong chừng mực nào đó, các sản phẩm thân thiện với môi trường đôi khi còn có ảnh hưởng tích cực tới môi trường. Ví dụ, các nông sản hữu cơ tạo điều kiện khôi phục lại cân bằng sinh thái, hoặc khi phân hủy chúng giúp đảm bảo khả năng tái tạo độ mùn của đất, các sản phẩm và dịch vụ khắc phục sự cố môi trường, các công nghệ sạch.
Sản phẩm xanh là những sản phẩm thân thiện với môi trường hơn khi so sánh với sản phẩm thông thường, có nghĩa là nó có ít tác động bất lợi với môi trường trong ít nhất một số giai đoạn của chu kỳ cuộc sống của sản phẩm xanh. Đây là một sản phẩm được sản xuất sử dụng thành phần nguyên liệu không có chất độc hại và quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, và được chứng nhận bởi một tổ chức được công nhận (Richmond, 2019). Cho đến nay chưa có sản phẩm nào được coi là thân thiện với môi trường một cách tuyệt đối mà chỉ tồn tại những sản phẩm thân thiện với môi trường một cách tương đối. Theo Richmond (2019) một tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực tiếp thị xanh đã định nghĩa sản phẩm xanh như sau: “Sản phẩm xanh thường bền, không độc hại, được làm bằng vật liệu tái chế, hoặc đóng gói với hình thức tối thiểu.
Tất nhiên, không có sản phẩm xanh hoàn toàn, vì chúng đều sử dụng hết năng lượng và các nguồn tài nguyên và tạo ra các sản phẩm và khí thải trong quá trình sản xuất, vận chuyển đến kho và cửa hàng, sử dụng và xử lý cuối cùng. Vì vậy, khái niệm sản phẩm xanh là tương đối, mô tả sản phẩm có ít tác động đến môi trường hơn so với những sản phẩm thay thế của sản phẩm xanh”. Một sản phẩm chỉ được coi là hoàn toàn thân thiện với môi 9 trường khi và chỉ khi nó đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn về tính thân thiện với môi trường từ giai đoạn sản xuất (bao gồm nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất) cho tới giai đoạn đưa vào tiêu dùng, sử dụng và cuối cùng là giai đoạn thải bỏ sau khi sử dụng (tính chất có thể tái chế được, không gây tổn hại cho môi trường tại bãi rác thải và quá trình vận chuyển lưu kho).