CHƯƠNG 1 - THỊ TRƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐHKK, TỦ LẠNH GIA DỤNG GIAI ĐOẠN 2012-2015 Tổng quan Việt Nam chúng ta là một nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm với miền Bắc có hai mùa rõ rệt và miền Nam thì nóng quanh năm. Về mặt dân số Việt Nam là nước đông dân đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới. Năm 2016 dân số Việt Nam là khoảng 93,4 triệu người. Nước ta là nước có nền kinh tế đang phát triển với tốc độ tăng trưởng khoẳng từ 6-7% năm.
Thu nhập trung bình không ngừng được nâng cao. Với điều kiện phát triển kinh tế nhanh chóng, chất lượng cuộc sống ngày một nâng cao, cộng với việc nhiệt độ trái đất đang bị nóng dần lên, nhu cầu sử dụng các thiết bị điện máy nói chung và điều hòa không khí (ĐHKK) nói riêng ở nước ta là rất lớn. Nếu theo thống kê chưa đầy đủ năm 2008 số lượng ĐHKK tiêu thụ mới đạt khoảng 400.000 máy thì đến năm 2015 số lượng ĐHKK tiêu thụ trên thị trường là khoảng 1,6÷1,7 triệu máy. Hiện nay, theo nhiều cách đánh giá khác nhau Việt Nam đang sử dụng 8-10 triệu bộ ĐHKK với tiêu thụ điện khoảng từ 36% tng sản lượng điện hàng năm.
Như vậy thị trường ĐHKK Việt Nam là một thị trường thuộc loại lớn nhất của khối các nước trong khu vực Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng rất cao từ 15÷30% năm. Tuy nhiên, khoảng 50% các ĐHKK được lắp rải rác ở hộ nhà dân và các tòa nhà hành chính, công sở và thương mại cỡ vừa và nhỏ, chủ yếu là các loại điều hòa gia dụng có mức độ tiêu thụ điện năng khá cao. Vì vậy,vấn đề tiết kiệm năng lượng cho ĐHKK đang là một vấn đề có tính cấp bách, mang tính thời sự và nó ảnh hưởng một phần đến an ninh năng lượng của nước ta.1 Điều tra đánh giá thực trạng điều hòa gia dụng 1.1 Khái niệm ĐHKK gia dụng Đây là một khái niệm quy ước tùy thuộc vào đặc thù của mỗi quốc gia. Như ở Mỹ các ĐHKK có năng suất lạnh không vượt quá 14kW thì có thể xếp vào loại ĐHKK gia dụng.
Theo quyết định 51/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tiêu chuẩn TCVN 3 7830:2012 các loại ĐHKK thuộc loại phải dán nhãn năng lượng bắt buộc là các loại ĐHKK có năng suất lạnh (NSL) không vượt quá 14kW trừ các loại ĐHKK dạng có ống gió, loại âm trần, áp trần có nhiều miệng thi, loại tủ đứng, loại đa dàn lạnh (multi split type)… Do đó, trên thực tế ở nước ta có thể coi ĐHKK gia dụng là các loại dạng 2 khối, một khối, có năng suất lạnh từ khoảng 7.000 BTU/h trở xuống.2 Lựa chọn đối tượng điều tra Để có được cái nhìn đúng hơn về thị trường ĐHKK gia dụng hiện nay theo tài liệu “ Đánh giá hiệu quả chương trình dán nhãn năng lượng năm 2015”[1] do TS. Nguyễn Đình Vịnh là chủ nhiệm đề tài và lấy số liệu của 20 doanh nghiệp có cung cấp, kinh doanh ĐHKK gia dụng. Trong đó, các hãng và các nhà cung cấp, kinh doanh ĐHKK gia dụng cho thị trường Việt Nam là: STT Công ty STT Công ty 1 PanasonicVN 11 Hệ thống siêu thị HC 2 DaikinVN 12 Hệ thống siêu thị Trần Anh 3 LGe 13 Hệ thống siêu thị Pico 4 Mitsubishi H. 14 Hệ thống siêu thị Mediamart 5 Toshiba Carrier 15 Hệ thống siêu thị Nguyễn Kim 6 Misubishi Electric VN 16 Siêu thị Việt Long 7 Nagakawa 17 Công ty TNHH Huyền Nguyên Châu 8 Midea VN 18 Công ty TNHH An Việt 9 Samsung VN 19 Công ty TNHH TMDV Châu Hiệp Phát 10 Trane VN 20 Công ty TNHH Hợp Phát 1.3 Phân tích kết quả điều tra, đánh giá chung về thị trường ĐHKK gia dụng Dựa vào số liệu từ các nguồn khác nhau, cũng như số liệu có được từ việc tham khảo kết quả điều tra của chính đề tài luận văn cho thấy, đối với thị trường ĐHKK của Việt Nam thị phần của các máy điều hòa gia dụng chiếm phần lớn lên tới hơn 90% thị phần, với doanh thu khoảng từ 10.
Trong đó loại điều hòa bán chạy nhất là điều hòa hai mảnh có năng suất lạnh 8000÷15000 BTU/h, 4 doanh số loại điều hòa này chiếm xấp xỉ 85÷90% tng lượng ĐHKK được bán trên thị trường. Nếu tính cả các ĐHKK có năng suất lạnh không vượt quá 20000BTU/h con số này lên tới 97÷98%.1 Phân bố các loại ĐHKK trên thị trường Việt Nam.[1] Tăng TT Nguồn Dạng ĐHKK 2012 2013 2014 2015 trưởng (%) BSRIA- Tất cả 453.91 - - - 8 1 2009 Gia dụng (%) 83,3 - - - 6,8 MOIT Tất cả - - - - 20÷30 2 2008 Gia dụng (%) - - - - >20 VISRAE Tất cả 870 1.000 - - 15 3 2013 Gia dụng (%) ~85 90% - - >20 Tất cả 754.172 >30% 4 HC Gia dụng (%) 97,85 98,26 98,04 97,90 Daikin Tất cả 989 1.000 18,9 5 2015 Gia dụng (%) >90% 98% 98% - Tất cả 761.000 >25 6 LGe Gia dụng (%) 97,7 98,4 98,1 97,5 ĐHKK gia dụng là điều hòa dạng 2 khối có năng suất lạnh 48.000 BTU/h Từ bảng 1.1 có thể thấy rất rõ rằng thị trường ĐHKK Việt Nam chủ yếu tập trung các loại máy gia dụng.1 dưới đây theo số liệu khảo sát trong vòng 6 năm ( 2010 - 2015) thể hiện sự thay đi phân bố của ĐHKK gia dụng theo các năm, có thể thấy tỉ lệ ĐHKK gia dụng khá là n định dao động xung quanh mốc 98% trong sáu năm trở lại đây. Vậy nên, có thể nói loại máy ĐHKK chi phối trực tiếp thị trường ĐHKK Việt Nam chính là các máy nhỏ-ĐHKK gia dụng. Trong đó, loại máy được sử dụng ph biến nhất là máy dạng 8.000 BTU/h chiếm trung bình 56,7%, máy có dải công suất 12.000 BTU/h chiếm khoảng 34,6%.
Công suất điện năng tiêu thụ của hai loại ĐHKK này là từ 0,7÷1kW và từ 1,1÷1,6 kW. Còn lại là loại máy ĐHKK gia dụng có NSL từ 15.000 BTU/h chiếm trung bình là 6,8%; loại lớn hơn có tỉ lệ rất nhỏ.1: Phân bố ĐHKK theo năng suất lạnh (NSL) 7 Một lần nữa thấy rằng thị trường máy ĐHKK gia dụng được chủ yếu là loại 8000÷11000BTU/h, theo số liệu cung cấp của các nhà cung cấp thiết bị chính cũng như các đại lý phân phối ĐHKK con số này là khoảng 50÷60% toàn bộ doanh số bán hàng.2: Tỉ lệ ĐHKK gia dụng trên toàn thị trường[1] Một lý do chính để chọn loại ĐHKK này là có NSL nhỏ, giá tiền vừa phải (6-7 triệu đồng) là có thể mua được loại dng tương đối n định. Hơn nữa, loại này rất thích hợp lắp cho các phòng khách cỡ nhỏ, các văn phòng, phòng ngủ. và chính là công suất tiêu thụ điện không cao.
Vì vậy thị trường ĐHKK nước ta ph biến dùng các loại này.4 Kết luận tổng hợp kết quả nghiên cứu Căn cứ vào các số liệu điều tra khảo sát ở trên, tức là từ việc lấy số liệu điều tra , phỏng vấn trực tiếp các đại lý bán hàng kết hợp với việc lấy số liệu của các nhà cung cấp thiết bị chính trên thị trường (20 doanh nghiệp) cho thấy một số điểm sau: - Thị trường ĐHKK gia dụng ở Việt Nam là thị trường nhiều tiềm năng với tốc độ tăng trưởng hằng rất cao từ 15% đến 30% ; - Thị phần ĐHKK gia dụng chiếm khoảng 98% toàn thị trường ĐHKK của Việt Nam. Có thể nói, đây là con số biết nói và rất lớn, do đó việc kiểm soát và định 8 hướng đúng cho thị trường ĐHKK gia dụng Việt Nam là một việc rất cần thiết thông qua chương trình dán nhãn năng lượng bắt buộc của Bộ Công Thương; - Các dạng ĐHKK có NSL nhỏ đặc biệt là 8000-11000 BTU/h, có công suất tiêu thụ điện không lớn chỉ từ 0,6÷1,1kW có giá cả phải chăng 6-8 triệu VND là một lựa chọn ưu tiên của đa số các khách hàng. Do đó, doanh số bán ra của dạng ĐHKK loại nhỏ này chiếm tới hơn 50% doanh số của toàn bộ ĐHKK gia dụng. Thấy rằng ĐHKK có NSL càng lớn thì doanh số bán ra thị trường ĐHKK gia dụng càng ít.
Từ đây có thể rút ra rằng ĐHKK đã thâm nhập được rất nhiều đối tượng khách hàng với các mức thu nhập khác nhau và nhu cầu sử dụng cũng như ưu tiên lựa chọn khác nhau; - Với sự phát triển về kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, thu nhập trung bình của người dân được cải thiện; cộng với sự nóng lên của trái đất. Thị trường Việt Nam là mảnh đất màu mỡ để ĐHKK phát triển.2 Khảo sát thị trường, đánh giá thực trạng Tủ lạnh gia dụng từ 2012 - 2015 1.1 Phân tích, đánh giá kết quả khảo sát Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và công nghiệp hóa trên toàn cầu, chất lượng cuộc sống cũng đi lên, nhưng đồng thời phải đối mặt là vấn đề an ninh năng lượng và ứng phó với biến đi khí hậu. Hiện nay, cũng như ĐHKK, Tủ lạnh là một loại thiết bị gia dụng được sử dụng ph biến trong khắp các hộ gia đình, các công sở, trường học, bệnh viện.Tủ lạnh có nhiều loại, dung tích khác nhau và công suất khác nhau ứng với mức tiêu thụ năng lượng cũng khác nhau. Việc sử dụng các loại Tủ Lạnh này sao cho tiết kiệm năng lượng cũng là một yêu cầu cấp bách không chỉ riêng nước ta mà còn của tất cả các nước trên thế giới.
Để đảm bảo an ninh năng lượng và ứng phó với biến đi khí hậu, phải sử dụng tiết kiệm năng lượng. Thực hiện được tiết kiệm năng lượng một cách hiệu quả là mang lại lợi ích rất to lớn và có ý nghĩa không chỉ ở chi phí cho tiêu thụ mà còn mang lại hiệu quả cho an ninh năng lượng của nước ta. Để phục vụ cho mục tiêu tiết kiệm năng lượng, người ta tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn về tiêu thụ năng lượng nhằm loại trừ những sản phẩm có hiệu suất thấp ra 9 khỏi thị trường dưới dạng chương trình dán nhãn năng lượng. Trong số các thiết bị gia dụng được dán nhãn tiết kiệm năng lượng và áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu (MEPS), Tủ lạnh gia dụng chiếm một vị trí quan trọng do tính ph biến cũng như là mặt hàng có sự tăng trưởng rất cao.
Dưới đây là các biểu đồ so sánh tỉ lệ thị phần Tủ lạnh tại Việt Nam được dán nhãn theo dung tích được nghiên cứu và khảo sát trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2015 theo các dung tích < 300 lít; 300 ÷500 lít; > 500 lít.3: Kết quả khảo sát tủ lạnh dung tích < 300 lít (2013) Hình 1.