Chương 1 - Giới thiệu tổng quan về đề tài: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý luận: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết của đề tài, các học thuyết, kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan và đề xuất mô hình, giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định các thang đo nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu cùng các kỹ thuật được sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu. Chương 4 - Phân tích kết quả nghiên cứu: Phân tích dữ liệu thứ cấp và diễn giải kết quả nghiên cứu SPSS.
Chương 5 - Kết luận và Đề xuất hàm ý quản trị: Tóm tắt những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế của đề tài. Đồng thời đề xuất hàm ý quản trị cho các trường ĐH, và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Ý định Theo (Ajzen và Fishbein, 1975) định nghĩa ý định hành vi là sự biểu thị tính sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã quy định, và nó được xem là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi. Ý định dựa trên các ước lượng bao gồm: Thái độ dẫn đến hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Đến năm 1991, ông cho rằng ý định mang tính thúc đẩy và thể hiện nỗ lực của một cá nhân sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể. Ý định là yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi của cá nhân. Gần đây nhất, vào năm 2002, Ajzen cho rằng: Ý định là hành động của con người được hướng dẫn bởi việc cân nhắc ba yếu tố niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động của con người càng lớn.
Thêm vào đó, ý định là một trạng thái tinh thần thể hiện cam kết thực hiện một hành động hoặc các hành động trong tương lai (Lương Thái Lê, 2019). Ý định liên quan đến các hoạt động tinh thần như lập kế hoạch và suy nghĩ trước. Như vậy, có thể nói ý định là một khái niệm biểu thị tính sẵn sàng, bao gồm tất cả các động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân và các yếu tố này mang tính thúc đẩy, cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi.2 Lựa chọn Theo Từ điển Tiếng Việt, lựa chọn được định nghĩa là việc đấu tranh giữa con tim và lý trí để chọn ra giữa nhiều cái cùng loại. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều tác giả trong cũng như ngoài nước đã nhắc đến khái niệm này.
Cụ thể, (Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006) cho rằng lựa chọn là thuật ngữ được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để ý định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thực hiện để có thể đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực. Về khái niệm lựa chọn trường đại học, Nguyễn Minh Hà (2011) cho rằng đây là một “Quá trình phức tạp, đa giai đoạn. Trong đó, một cá nhân phát triển những nguyện vọng để tiếp tục giáo dục chính quy sau khi học trung học, tiếp theo sau đó bởi một quyết định theo học 8 một trường đại học cụ thể, cao đẳng, hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức đào tạo tiên tiến.” Như vậy, lựa chọn là một chuỗi hành động cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng nhằm chọn ra thứ tốt nhất trong hàng loạt những cái có liên quan. Các bạn học sinh THPT, đặc biệt là HS cuối cấp sẽ đưa ra các lựa chọn của mình trước khi kết thúc cấp học phổ thông.
Các bạn sẽ được gia đình, nhà trường tư vấn và đưa ra lời khuyên về việc lựa chọn trường ĐH, bởi điều đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như xu hướng chọn ngành, điểm chuẩn, điểm thi, v. Trong bài nghiên cứu của tác giả, khái niệm lựa chọn trường ĐH được hiểu là ý định nộp đơn xét nguyện vọng vào các trường ĐH của HS lớp 12.3 Hành vi Theo Từ điển Tâm lý học Mỹ định nghĩa hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất cứ cá nhân nào. Một ý kiến khác cho rằng, hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích từ thế giới bên ngoài. Là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội.
Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác. Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian (Ngọc Thi, 2016). Nếu xét trên phương diện về sinh học‚ tâm lý học thì (Phạm Thị Oanh, 2020) cho rằng hành vi của con người là toàn bộ những phản ứng của con người, có thể thay đổi theo thời gian, bao gồm biểu hiện về cách cư xử, các hành động được biểu hiện ra bên ngoài trong một hoàn cảnh thời gian nhất định. Như vậy, tác giả có thể định nghĩa hành vi là cách thể hiện suy nghĩ của một người ra bên ngoài thông qua hành động hoặc cử chỉ‚ trạng thái trong một hoàn cảnh nhất định và trong một khoảng thời gian cụ thể.4 Đại học và các khái niệm liên quan Theo định nghĩa tại Điều 4 Luật giáo dục Đại học sửa đổi 2018 như sau: Đại học là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này; các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục 9 tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung.
Còn Chuyên ngành là một phần kiến thức và kỹ năng chuyên môn sâu có tính độc lập trong một ngành, do cơ sở giáo dục đại học quyết định. Thêm vào đó, chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học cũng được định nghĩa bao gồm các thành phần: văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá cấu trúc tổng thể các bộ môn và ngành học, trình độ đào tạo; bảo đảm yêu cầu liên thông giữa các trình độ và với các chương trình đào tạo khác. Ở tầm vĩ mô, hướng nghiệp là hệ thống biện pháp tác động của Nhà nước, tổ chức hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau trong xã hội, giúp cho con người lựa chọn và xác định được vị trí nghề nghiệp của mình trong cuộc sống. Platonov, “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục, y học, nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, vừa phù hợp với hứng thú năng lực của bản thân.
Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội với quyền lợi của cá nhân”. Trong môi trường Trung học phổ thông, thì theo tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách Giáo dục hướng nghiệp lớp 10 có nêu “Hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội”. Theo (Đoàn Chi, Phạm Tất Dong và Nguyễn Thế Trường, 1996): “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh là hệ thống những biện pháp tâm lý – giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của học sinh, đối chiếu các năng lực đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó cho các em những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn khi chọn nghề”. Đây là một hoạt động cần được thực hiện hiệu quả, được xem như là nền móng để gầy dựng sự nghiệp sau này của các em.
Tuỳ theo năng lực thể chất và tư duy của mỗi học sinh mà sẽ có một sự định hướng phù hợp từ các chuyên gia. Được thực hiện chủ yếu qua các chương trình liên kết giữa các trường đại học với các trường THPT hay do trường THPT tự tổ chức.2 Các lý thuyết có liên quan 2.1 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA) Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) do Fishbein và Ajzen xây dựng 1975, được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian. Thuyết hành động hợp lý (TRA) nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người. Hơn nữa, sẽ giúp ta hiểu được ý định để thực hiện một hành vi cụ thể.
Thuyết này được sử dụng để dự đoán cách mà các cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ. Các cá nhân sẽ hành động dựa vào những kết quả mà họ mong đợi khi thực hiện hành vi đó. Hay ý định thực hiện một hành vi nhất định diễn ra trước hành vi thực tế (Azjen và cộng sự, 1986). Mô hình thuyết hành động hợp lý cho rằng ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thái độ cá nhân đối hành vi, cùng sự ảnh hưởng của chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó (Fishbein và Ajzen, 1975).
Trong đó, Thái độ và Chuẩn chủ quan có tầm quan trọng trong ý định hành vi vì các thành phần này có ảnh hưởng đến xu hướng dẫn đến hành vi của người tiêu dùng. Thái độ có thể được đo lường bằng tổng hợp của sức mạnh niềm tin và đánh giá niềm tin này. Thái độ của các cá nhân đối với một hành vi cụ thể là tích cực, tiêu cực hay trung tính (Hale, 2003). Gia đình, bạn bè, v.v có ảnh hưởng đến ý định hành vi của một cá nhân.