phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài kết cấu thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Hàm ý quản trị rút ra từ kết quả nghiên cứu Tóm tắt chƣơng 1 Chƣơng một giới thiệu sơ lƣợc tổng quan về đề tài nghiên cứu và đƣa ra những vấn đề cần giải quyết cũng những hƣớng nghiên cứu. Chƣơng 2 bài nghiên cứu sẽ tập trung tổng hợp lý thuyết và xây dựng mô hình đề xuất. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan 2.
Sự khác biệt giữa chƣơng trình đại học chính quy và chƣơng trình đại học chính quy chất lƣợng cao Nội dung giảng dạy của hai chƣơng trình đào tạo đều giống nhau ở khung chƣơng trình nói chung, tuy nhiên chƣơng trình đào tạo chất lƣợng cao sẽ đƣợc tăng cƣờng thêm tiếng Anh trong một phần các môn học chuyên ngành. Điều này giúp sinh viên tiếp cận thƣờng xuyên hơn với ngoại ngữ hơn. Giúp kiến thức tiếng Anh chuyên ngành đƣợc trang bị kỹ càng hơn và sử dụng thƣờng xuyên nhằm tiếp cận với bối cảnh xã hội toàn cầu hóa, mở ra nhiều vị trí việc làm ở các tập đoàn nƣớc ngoài, tập đoàn đa quốc gia, có nhiều cơ hội du học,… Môi trƣờng học tập sẽ tùy vào sự sắp xếp của trƣờng đại học mà sinh viên theo học, nhìn chung cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của chƣơng trình chất lƣợng cao sẽ đƣợc trang bị đầy đủ và đầu tƣ hơn. Ngoài ra số lƣợng sinh viên tham gia lớp học cũng ít hơn 50% - 60% so với chƣơng trình chính quy chuẩn.
Đối với trƣờng có nhiều cơ sở, sinh viên chất lƣợng cao có thể sẽ có cơ hội lựa chọn cơ sở học tập thuận tiện với bản thân. Chọn trƣờng đại học và chƣơng trình học Chọn trƣờng đại học: Theo (Hossler, D., 1987), chọn trƣờng đại học là một quá trình phức tạp, bao gồm rất nhiều giai đoạn trong đó một số cá nhân nảy sinh những nguyện vọng của bản thân có thể tiếp tục học tập tại các cơ sở giáo dục chính quy sau khi hoàn thành chƣơng trình giáo dục phổ thông bởi các quyết định theo học một trƣờng đại học cụ thể, cao đẳng hoặc một tổ chức hƣớng nghiệp có uy tín. Quyết định lựa chọn trƣờng đại học là giai đoạn quan trọng đối với các sinh viên vì việc lựa chọn theo học đúng trƣờng phù hợp với năng lực và định hƣớng tƣơng lai của bản thân giúp sinh viên có đủ nguồn lực đi đến cùng của lộ trình đào tạo, tạo tiền đề phát triển sự nghiệp sau khi tốt nghiệp. Chọn chƣơng trình đào tạo: Tƣơng tự nhƣ việc chọn trƣờng thì việc lựa chọn chƣơng trình đào tạo tại các trƣờng đại học ở Việt Nam cũng rất quan trọng.
Chọn chƣơng 8 trình đào tạo đƣợc xem là hành động lựa chọn một chất lƣợng dịch vụ, nhu cầu của sinh viên là điều kiện học tập tốt và đƣợc tiếp xúc với ngoại ngữ thì sinh viên sẽ có xu hƣớng chọn chƣơng trình đào tạo chất lƣợng cao hoặc các chƣơng trình liên kết quốc tế. Dịch vụ giáo dục đại học Trong nền kinh tế phát triển nhanh chóng hiện nay việc cung cấp các sản phẩm rất đa dạng và phong phú. Sản phẩm mà nhà cung cấp đƣa ra thị trƣờng không những là vật chất mà còn các dạng sản phẩm dịch vụ cụ thể. Các sản phẩm dịch vụ thuộc hàng hóa phi vật thể tồn tại dƣới dạng hữu hình.
J, 2000), dịch vụ là những hoạt động và cách thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và đáp ứng kỳ vọng của khách hàng trong quá trình trải nghiệm. (Koler, 2005) thì định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và khách hàng thƣờng sẽ không có quyền sở hữu, việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Hiện nay có khá nhiều khái niệm cũng nhƣ những góc nhìn khác nhau về dịch vụ. Nhƣng nhìn chung, dịch vụ là hoạt động đƣợc tạo ra có chủ đích và nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nào đó của khách hàng.
Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại dƣới dạng sản phẩm cụ thể nhƣ hàng hóa khác nhƣng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nào đó của xã hội và hiện nay giáo dục đại học đang đƣợc xem là một loại hình dịch vụ. Giáo dục là một khái niệm tổng quát bao gồm nhiều hoạt động chính thức và phi chính thức khác nhau nhƣng có chung mục đích là truyền đạt kiến thức, bồi dƣỡng nhân cách, nâng cao kĩ năng cần thiết phục vụ cho công việc và giúp ngƣời học có khả năng thích ứng với cuộc sống dựa trên các giá trị văn hóa cùng với nguồn kiến thức vô tận của nhân loại. Mục tiêu của hoạt động giáo dục là đào tạo ra những cá nhân có năng lực làm việc, đạo đức tốt, kiến thức vững và có sức khỏe để góp phần tạo nên xã hội văn minh và thế giới tiên tiến hơn. Hiện nay dịch vụ giáo dục rất đƣợc quan tâm, chú trọng, đầu tƣ và đẩy mạnh nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lƣợng trong tƣơng lai.
Tổng quan về chƣơng trình đào tạo chất lƣợng cao của Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh 2. Sơ lƣợc về Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Theo thông tin đƣợc công bố trên trang web chính thức của trƣờng (hub.vn), Trƣờng Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh là trƣờng đại học 9 công lập trực thuộc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đƣợc thành lập từ ngày 16/12/1976 và có hơn 13.000 sinh viên đang theo học ở các bậc đào tạo từ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ với 7 ngành, hơn 40 chƣơng trình đào tạo. Đội ngũ nhân sự của HUB với gần 500 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó có 18 Phó Giáo sƣ, 142 Tiến sĩ và 239 Thạc sĩ, vừa là các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý giàu kinh nghiệm, vừa là những thầy cô tận tâm với sinh viên. Trƣờng có 03 cơ sở đào tạo với 02 cơ sở tại trung tâm Q1 thành phố Hồ Chí Minh và 01 cơ sở tại thành phố Thủ Đức có tổng diện tích lên đến hơn 11 hecta đƣợc đầu tƣ xây dựng khang trang, hiện đại.
Trƣờng Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm 50 trƣờng đại học và là một trong hai trƣờng thuộc khối kinh tế có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam (Dữ liệu Scopus, DTU Rerearch, 2019). Trƣờng đã đƣợc cấp các chứng nhận kiểm định trong và ngoài nƣớc nhƣ: Chứng nhận kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT Việt Nam (MOET); 06 Chƣơng trình đào tạo đƣợc cấp Chứng nhận kiểm định quốc tế theo bộ tiêu chuẩn của Hiệp hội các trƣờng đại học Đông Nam Á (Asean University Network – Quality Assurance - AUN-QA); Chứng nhận Hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 của Tổ chức Afnor Cộng hòa Pháp. Với lịch sử hơn 45 năm xây dựng và phát triển, Trƣờng đã đào tạo hơn 50.000 cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Nhiều thế hệ học viên, sinh viên tốt nghiệp từ trƣờng hiện đang công tác và nắm nhiều trọng trách tại các cơ quan, các tổ chức tài chính, trƣờng đại học, doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc.
Hiện nay, trƣờng Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh mang sứ mạng kiến tạo hệ sinh thái giáo dục giúp ngƣời học khám phá nâng tầm tài năng riêng có của mình và là đại học của tƣơng lai với những bƣớc chuyển mình mạnh mẽ, với tầm nhìn trở thành đại học đa ngành và liên ngành nằm trong nhóm các đại học có uy tín ở khu vực Đông Nam Á, tiên phong ứng dụng công nghệ số trong đào tạo, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên ngành. Chƣơng trình đào tạo chất lƣợng cao của Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng trình Đại học chính quy chất lƣợng cao tại Trƣờng Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đƣợc triển khai đào tạo từ năm 2013 với sự chấp thuận của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 6650/BGDĐT–GDĐH ngày 29/9/2013 và công văn số 247/BGDĐT–GDĐH ngày 24/01/2017. 10 Đối với trƣờng Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh chƣơng trình đào tạo chất lƣợng cao rất đƣợc nhà Trƣờng chú trọng và đầu tƣ cơ sở vật chất rất tiện nghi.
Giảng viên giảng dạy kiến thức thuộc chƣơng trình chất lƣợng cao cũng đƣợc chọn lọc rất kĩ càng. Chƣơng trình đào tạo đƣợc phát triển dựa trên nền tảng của chƣơng trình đại học chính quy, đồng thời đƣợc tham khảo các chƣơng trình đào tạo nƣớc ngoài, đảm bảo khả năng liên thông, hoặc chuyển tiếp sang các chƣơng trình đào tạo nƣớc ngoài. Khoảng 20% - 30% số tín chỉ các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, ngành và chuyên ngành đƣợc giảng dạy hoàn toàn bằng Tiếng Anh. Ngoài ra còn có nhiều học phần sử dụng giáo trình, tài liệu tiếng Anh trong quá trình giảng dạy, học tập đƣợc quy định cụ thể tại đề cƣơng các học phần.
Giảng viên tham gia giảng dạy chƣơng trình chất lƣợng cao phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của BGD&ĐT và quy định của Trƣờng. Nhà Trƣờng lựa chọn những giảng viên xuất sắc, tận tâm và giàu kinh nghiệm tham gia giảng dạy tại chƣơng trình bao gồm cả các giảng viên đƣợc đào tạo dài hạn ở nƣớc ngoài, giảng viên thỉnh giảng trong và ngoài nƣớc. Sĩ số lớp học phần khoảng là 40 sinh viên, thực hiện theo học chế tín chỉ, sử dụng triệt để phƣơng pháp giảng dạy mới theo hƣớng phát huy năng lực cá nhân của sinh viên, tăng cƣờng rèn luyện kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng sử dụng các trang thiết bị hiện đại và các phần mềm chuyên dụng để giải quyết các nội dung chuyên môn. Trong khóa học, sinh viên sẽ tham gia nghiên cứu khoa học theo nhóm dƣới sự hƣớng dẫn của giảng viên hoặc tham gia các đề tài nghiên cứu cùng với giảng viên.
Sinh viên đƣợc yêu cầu thực hiện khóa luận tốt nghiệp, và đƣợc khuyến khích thực hiện khóa luận tốt nghiệp bằng tiếng Anh. Điều này giúp sinh viên đào sâu hơn kiến thức chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng giải quyết vấn đề và các kỹ năng khác.