Chương 1: Cơ sở khoa học về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của người lao động Chương 2: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế Phần III. Kết luận và kiến nghị 8 SVTH: Trương gọc Hoàn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Quốc Khánh PHẦ II. ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÁC YẾU TỐ Ả H HƯỞ G ĐẾ SỰ HÀI LÒ G TRO G CÔ G VIỆC CỦA GƯỜI LAO ĐỘ G 1.1 guồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực N hân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. N hân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp.
Vai trò của nguồn nhân lực N hân lực là một thành phần không thể thiếu trong bất cứ một đơn vị doanh nghiệp nào. Không một đơn vị nào có thể tồn tại nếu không có nguồn nhân lực đáp ứng được sự hoạt động và vận hành của bộ máy công ty. N guồn nhân lực bao gồm tất cả những người đã và đang làm việc tại công ty ở tất cả các vị trí khác nhau. Có thể nói, đây là nguồn chính quyết định đến lợi nhuận và sự phát triển của công ty.
Con người dù ở mọi vị trí, mọi đơn vị khác nhau đều là những chủ thể quan trọng trong việc sáng tạo và phát huy những lợi thế của đơn vị. N guồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển của doanh nghiệp.
9 SVTH: Trương gọc Hoàn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Quốc Khánh 1. Sự hài lòng của LĐ trong công việc 1. Khái niệm sự hài lòng trong công việc Sự hài lòng hay sự thỏa mãn công việc đến nay chưa có sự thống nhất từ các nhà nghiên cứu, các tác giả khác nhau có cách tiếp cận khác nhau theo hướng xác định sự hài lòng công việc.
Một số định nghĩa phổ biến nhất về sự hài lòng công việc E.Locke (Đại học Maryland, Mỹ) cho rằng: “Sự hài lòng trong công việc là trạng thái cảm xúc thú vị từ kết quả thNm định công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một người”. Milton Friedman (nhà kinh tế học đoạt giải N obel) và John Arnold (nhà đầu tư) nhấn mạnh: Sự hài lòng trong công việc được định nghĩa là số lượng ảnh hưởng tích cực nói chung hoặc cảm xúc mà cá nhân đối với công việc của mình. Còn theo nhà nghiên cứu Andrew Bin, sự hài lòng chính là yêu thích công việc: “N ếu bạn thích công việc của mình, bạn sẽ có được sự hài lòng”. Luddy (2005) cho rằng sự thỏa mãn công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xức đối với các khía cạnh khác nhau của công việc.
Luddy nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn bao gồm: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp,nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm: thăng kiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cơ cấu tổ chức. Tóm lại, hài lòng công việc là một định nghĩa trừu tượng. N hưng trong nghiên cứu này hài lòng trong công việc được hiểu là sự đánh giá trong công việc của người lao động. Lợi ích từ việc làm hài lòng nhân viên Sự hài lòng của nhân viên có vai trò hết sức quan trọng trong bất kì tổ chức nào.
N gười lao động chỉ hoạt động tích cực khi mà họ thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân: - Việc làm hài lòng nhân viên từ đó tạo ra sự trung thành qua đó giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí tuyển dụng, đào tạo. - Sự hài lòng của nhân viên trong công việc sẽ dẫn đến tăng năng suất và hiệu suất làm việc bởi những nhân viên hài lòng trong công việc sẽ có thái độ tốt hơn, họ sẵn sàng cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp. 10 SVTH: Trương gọc Hoàn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Quốc Khánh - Thái độ của nhân viên tốt hơn dẫn đến hành vi đối với khách hàng cũng tốt hơn giúp xây dựng hình ảnh của công ty tốt hơn trong mắt của khách hàng.
- Giúp doanh nghiệp giảm thiểu các sai sót trong quá trình làm việc từ các nhân viên mới. - Tạo sự gắn kết giữa lao động và tổ chức, giữ được nhân viên giỏi, giảm tỷ lệ nghỉ việc. Các học thuyết về sự hài lòng trong công việc 1. Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Hình 2: Tháp nhu cầu Maslow Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất.
Khi một nhóm các nhu cầu được thoả mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đNy nữa. hu cầu về sinh lý: Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (Thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở,. Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đNy được mọi người. hu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe doạ mất việc, mất tài sản… 11 SVTH: Trương gọc Hoàn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
guyễn Quốc Khánh hu cầu xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. hu cầu được tôn trọng: Theo Maslow, khi con người bắt đầu thoả mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng.
N hu cầu loại này dẫn tới sự thoả mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. hu cầu tự hoàn thiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó.
Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết nhu cầu của Maslow sắp xếp nhu cầu con người từ thấp đến cao. N hững nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thoả mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
N hư vậy theo lý thuyết này, thì trước tiên các nhà lãnh đạo phải quan tâm đến các nhu cầu vật chất, trên cơ sở đó mà nâng dần lên các nhu cầu bậc cao hơn. Thuyết công bằng của John Sracey Adams (1963) Lý thuyết cân bằng của Adams được đặt tên của nhà tâm lý học hành vi John Stacey Adams, người đã phát triển lý thuyết này từ năm 1963. Lý thuyết cân bằng của Adams thừa nhận rằng có những yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá và nhận thức về mối quan hệ của người lao động đối với công việc của họ và việc sử dụng lao động trong tổ chức. các lý thuyết được xây dựng trên niềm tin rằng: các nhân viên cảm thấy bị dao động, nếu họ cảm thấy như “đầu vào” của họ lớn hơn so với kết quả “đầu ra”.
Khi nhận thức được sự chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra tồn tại theo hướng này, họ sẽ giảm nỗ lực, trở nên bất mãn, thậm chí gây rối. Lý thuyết cân bằng của Adams cho rằng cần có một sự cân bằng hợp lý giữa “đầu vào” của một nhân viên như công việc khó khăn, trình độ kỹ năng, lòng khoan dung, sự nhiệt tình, và “đầu ra” của một nhân viên này như tiền lương, phúc lợi, tài sản 12 SVTH: Trương gọc Hoàn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Quốc Khánh vô hình như sự công nhận. Khi đó việc tìm kiếm sự cân bằng hợp này phục vụ đảm bảo một mối quan hệ mạnh mẽ và hiệu quả giữa tổ chức với nhân viên, và kết quả tổng thể là nhân viên cảm thấy mãn nguyện, động lực làm việc cao.
Thuyết hai yếu tố của Frederick Heberg (1959) Frederick Herzberg, Giáo sư tâm lý người Mỹ, đưa ra 2 nhóm các yếu tố thúc đNy công nhân làm việc. - Các yếu tố thúc đNy: Các yếu tố thúc đNy là các yếu tố thuộc bên trong công việc, trách nhiệm, sự công nhận, thành đạt và cơ hội phát triển. N hững yếu tố này qui định sự hứng thú và thoả mãn xuất phát từ một công việc. Khi thiếu vắng những yếu tố thúc đNy, người công nhân viên sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc.
Herzberg cho rằng, việc đảm bảo các yếu tố bên ngoài công việc ở trạng thái tích cực là cần thiết để duy trì mức độ thoả mãn hợp lý của công việc. Song để làm tăng mức độ thoả mãn của công việc, cần phải chú ý nhiều tới việc cải thiện các yếu tố thúc đNy. - Các yếu tố duy trì: Các yếu tố duy trì là các yếu tố thuộc bên ngoài công việc, bao gồm: điều kiện làm việc, chính sách và qui định quản lý của DN , sự giám sát, mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, tiền lương, địa vị, công việc ổn định.