CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Các khái niệm có liên quan 1. Công chức, viên chức, người lao động Người làm việc trong cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước bao gồm cán bộ, công chức, viên chức - những người trong biên chế, làm việc trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng, tổ chức chính trị-xã hội, trong các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ đồng nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp. Viên chức là những công dân Việt Nam qua quá trình tuyển dụng theo một quy trình nhất định để vào làm tại các vị trí công việc cụ thể tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc sự quản lý của Nhà nước.
Trong khi đó, công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện 1. Sự hài lòng trong công việc Trong bối cảnh ngày nay, bên cạnh sự cạnh tranh về trí tuệ và năng lực làm việc thì thái độ làm việc cũng là yếu tố có sự cạnh tranh rõ rệt. Thái độ làm việc trực tiếp quyết định hành vi một con người, quyết định độ tận tâm làm việc và mức độ chí tiến thủ muốn vươn xa hơn. Vì vậy, đối với tổ chức, hiểu rõ, tạo đựng và duy trì được sự hài lòng của nhân viên có vai trò rất quan trọng.
Tuy nhiên, bắt đầu từ thế kỷ 20, trên thế giới đã xuất hiện nhiều nghiên cứu và có những định nghĩa đa dạng về sự hài lòng của nhân viên trong công việc. Theo Wikipedia, “Sự hài lòng trong công việc hoặc sự hài lòng của nhân viên là thước đo sự hài lòng của người lao động với công việc của họ, cho dù họ có thích công việc hay các khía cạnh cá nhân hay khía cạnh của công việc, như tính chất công việc hoặc giám sát” Sự hài lòng của nhân viên thường thiên về nhận thức, trạng thái cảm xúc hoặc tinh thần con người. Một trong những định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất trong 8 nghiên cứu tổ chức là của Locke (1976), người định nghĩa “Sự hài lòng của nhân viên trong công việc là trạng thái cảm xúc dễ chịu hoặc tích cực do đánh giá kinh nghiệm làm việc hoặc công việc của một người” Tương tự như vậy, Fieldman và Arnold nhấn mạnh “Nhân viên hài lòng trong công việc sẽ được định nghĩa là số lượng ảnh hưởng tích cực nói chung hoặc (cảm xúc) mà các cá nhân có đối với công việc của mình.” Còn theo Andrew Brin, sự hài lòng chính là việc yêu thích trong công việc “Nếu bạn thích công việc của mình, bạn sẽ có được sự hài lòng trong công việc cao. Nếu bạn không thích công việc của mình một cách mạnh mẽ, bạn sẽ cảm thấy không hài lòng về công việc “.
Tuy nhiên, Hackman và Oldham (1975) đã đưa ra quan điểm rằng “sự thỏa mãn của người lao động là chuỗi giá trị của nhận thức và trải nghiệm qua đó kết hợp các đặc điểm công việc cốt lõi như: kỹ năng làm việc, tính chất công việc, tầm quan trọng công việc, quyền quyết định và phản hồi tạo động lực làm việc” Kreitner và Knicki (2007) lại đưa ra ý kiến rằng sự thỏa mãn công việc chỉ phản ánh một phần về thái độ đối với công việc mà người lao động yêu thích theo thang đo các yếu tố đánh giá: thu nhập, cơ hội thăng tiến, quan hệ đồng nghiệp và thang đo yếu tố khác mà họ mong đợi. Rất nhiều định nghĩa về sự hài lòng của người lao động trong công việc bởi sự ảnh hưởng từ môi trường, văn hoá, cách tiếp cận và những tiêu chí khác nhau. Bởi vậy thông qua mỗi công trình nghiên cứu sẽ cho ta thấy những khía cạnh riêng biệt, những phát hiện mới mẻ về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thoả mãn người lao động trong công việc. Tuy nhiên, các định nghĩa khác nhau đều đưa ra một đặc điểm chung là sự hài lòng liên quan đến cảm xúc của một người đối với công việc, minh chứng rõ ràng nhất cho cảm xúc của một người đối với tổ chức chính là thái độ làm việc.
Vì vậy, những bộ phận đầu não, cán bộ quản lý cần hiểu rõ, nắm vững tâm lý, hành vi, thái độ của người lao động để đánh giá về sự hài lòng của nhân viên trong công việc. Cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là một bộ phận của bộ máy nhà nước, được hình thành để thực hiện các chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực, trên các đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định theo quy định của pháp luật 9 hiện hành. Ở Việt Nam, cơ quan hành chính nhà nước được hình thành từ các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Theo đó, cơ quan hành chính nhà nước bao gồm cơ quan hành chính trung ương và địa phương.
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân và cơ quan cùng cấp bầu và miễn nhiệm. Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu là các tổ chức hành chính địa phương từ cấp tỉnh đến cấp xã. Đặc thù công việc trong cơ quan hành chính nhà nước Về cơ cấu tổ chức: Tổ chức lao động được tổ chức theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan chịu trách nhiệm trước nhà nước, các ngành thuộc các lĩnh vực của nền kinh tế chịu trách nhiệm chính. Về thu nhập và phúc lợi: Thu nhập sẽ gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của người lao động và dựa vào nguồn trả lương của cơ quan, tổ chức hành chính.
Chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được thực hiện theo quy định của pháp luật và là chế độ bắt buộc đối với mọi cán bộ công chức, giúp ổn định đời sống của người lao động. Về đánh giá thành tích, tạo động lực trong các công tác thi đua: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm đánh giá người lao động thuộc thẩm quyền. Kết quả đánh giá khách quan sẽ được đưa vào dữ liệu lưu trữ để tiến hành theo dõi, kịp thời đưa ra các chế độ khen thưởng và kỷ luật hợp lý Về chế độ khen thưởng và kỷ luật: Người lao động hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, gặt hái được các thành tích trong công việc thì được thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. Bên cạnh đó, cá nhân được khen thưởng do có thành tích xuất sắc sẽ được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu.
Tuy nhiên, các cá nhân khi vi phạm kỷ luật, gây lãng phí, trì trệ trong công việc sẽ bị nhắc nhở rút kinh nghiệm, kỷ luật để tránh tái phạm cho những lần tới. Về đào tạo và thăng tiến: người lao động có năng lực làm việc, tiềm năng trong phát triển sẽ được tạo cơ hội đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn để phù hợp cho các vị trí cao hơn. Những người đã đạt được trình độ yêu cầu, chí tiến thủ cao sẽ được nâng ngạch về mặt chuyên môn nghiệp vụ. 10 Như vậy, nhiệm vụ chính khi làm việc trong khu vực công có đặc thù gắn với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công, các quy trình hành chính liên quan đến giải đáp thắc mắc, khiếu nại của dân, tham mưu, giúp đỡ cho các tổ chức cấp.
Môi trường làm việc mang tính ổn định, có sự gắn bó với đồng nghiệp. Mọi quy định về chế độ lương, thưởng, phúc lợi, đào tạo thăng tiến, thời gian làm việc. đều bắt buộc tuân theo quy định hành chính nhà nước. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của người lao động Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của người lao động trong mỗi tổ chức.
Có những yếu tố bên ngoài như cơ chế chính sách của Nhà nước, tình hình kinh tế, xã hội,… và những yếu tố bên ngoài tổ chức như sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế, tình hình chính trị quốc tế,… Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng ta tập trung vào nghiên cứu các yếu tố bên trong tổ chức. Theo mô hình nghiên cứu của JDI thì các yếu tố trong tổ chức ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của người lao động gồm: 1. Bản chất công việc Mỗi yếu tố kể trên nếu được nhà quản trị quan tâm cải thiện và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong quá trình thực hiện công việc thì sẽ làm cho họ thực sự hài lòng với công việc, từ đó, mang lại hiệu quả làm việc cũng như năng suất lao động cao hơn, đồng thời hạn chế đáng kể hiện tượng lãn công và nghỉ việc. Có thể thấy rằng, bản chất công việc có tác động tích cực đối với sự hài lòng công việc, và sự hài lòng công việc lại mang đến nhiều lợi ích cho người lao động cũng như các doanh nghiệp, tổ chức.
Theo Locke, 1995 “Sự hài lòng trong công việc của người lao động phụ thuộc vào sự hài lòng của người lao động đối với các thành phần công việc, chẳng hạn như bản chất công việc đó”. Bản chất công việc gồm năm khía cạnh khác nhau, bao gồm: mức độ đa dạng của các kỹ năng, mức độ rõ ràng và hoàn chỉnh của các nhiệm vụ, mức độ ý nghĩa của nhiệm vụ, tính tự chủ trong công việc, và mức độ phản hồi trong công việc. Sự hài lòng của nhân viên và bản chất của công việc có quan hệ mật thiết với nhau, là sự thể hiện ý kiến của người làm việc về cả cảm xúc và các hình thức suy nghĩ cá nhân về công việc của họ. Việc chú trọng tới khác khía cạnh nêu trên của tính chất công việc sẽ góp phần cải thiện thái độ và hành vi của nhân viên.
Điều kiện làm việc Nhiều nghiên cứu của Spector (1985), Trần Kim Dung (2005), Nguyễn Liên Sơn (2008), Phạm Văn Mạnh (2012), … đã kiểm chứng rằng người lao động có một môi trường và điều kiện làm việc tốt sẽ cảm thấy hài lòng với công việc và ngược lại.