Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động trực tiếp về công việc tại công ty cổ phần Dệt may Huế Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người lao động trực tiếp về công việc tại Công ty Cổ phần Dệt May Huế Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN N GHN SVTH: Trần gọc Bình 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Diệu Linh PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA VỀ VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1. Cơ sở lý luận về sự hài lòng công việc của người lao động 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến mức độ hài long của người lao động trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm về người lao động Theo Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau: (gười lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Theo Wikipedia: Một người lao động, người làm công, người làm thuê, người thợ hay nhân công là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phN m cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng. Tại nhiều quốc gia như Đức, kể từ khi cải cách pháp luật thông qua Đạo luật Hiến pháp trình trong năm 2001, theo pháp lý không còn phân biệt giữa nhân viên và công nhân, § 5, khoản 1 WCA cả hai được gọi chung là "người lao động". Luật này tác động đến một số thỏa thuận thương lượng tập thể của Đức.
N hư vậy, trong những năm gần đây, sự tách biệt và phân biệt đối xử giữa công nhân, viên chức, nhân viên hoặc cán bộ - thực hiện các hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp tương tự hoặc hoạt động tương tự - được bãi bỏ, như trong các thoả ước tập thể cho dịch vụ công cộng (TvöD) và trong các thoả ước tập thể về khuôn khổ của hợp đồng làm việc. Tại Việt N am, Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 định nghĩa: N gười lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. N gười lao động có thể là người: • Lao động phổ thông, lao động chân tay (có tay nghề hoặc không có tay nghề): Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc,… • Lao động trí óc (hoặc lao động văn phòng): N hân viên (công chức, cán bộ, chuyên gia,… SVTH: Trần gọc Bình 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Diệu Linh N gày 20/11/2019, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động 2019 thay thế cho Bộ luật Lao động 2012.
Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực kể từ 01/01/2021. Tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2019 quy định N gười lao động như sau: N gười lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, tại Bộ luật mới này có nhiều quy định mới so với quy định cũ tại BLLĐ 2012, đơn cử như: Loại hợp đồng lao động, tuổi nghỉ hưu, nghỉ lễ Quốc Khánh,. Khái niệm về sự hài lòng của người lao động trong công việc Sự hài lòng trong công việc hoặc sự hài lòng của nhân viên là thước đo sự hài lòng của người lao động với công việc của họ, cho dù họ có thích công việc hay các khía cạnh cá nhân hay khía cạnh của công việc, như tính chất công việc hoặc giám sát.
Sự hài lòng của công việc có thể được đo lường bằng nhận thức (đánh giá), tình cảm (hoặc cảm xúc) và các thành phần hành vi. Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng các biện pháp thỏa mãn công việc khác nhau ở mức độ mà họ đo lường cảm xúc về công việc (sự hài lòng trong công việc) hoặc nhận thức về công việc (nhận thức hài lòng về công việc). Một trong những định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu tổ chức là của Locke (1976), người định nghĩa sự hài lòng trong công việc là "trạng thái cảm xúc dễ chịu hoặc tích cực do đánh giá kinh nghiệm làm việc hoặc công việc của một người". N hững người khác đã định nghĩa nó đơn giản là sự thỏa mãn của một cá nhân với công việc của họ; cho dù anh ấy hoặc cô ấy thích công việc hay không.
Sự hài lòng trong công việc cũng được định nghĩa là “mức độ mà một nhân viên có cảm xúc thuận lợi hoặc tích cực về công việc hoặc môi trường làm việc” (De N obile, 2003). N ó đề cập đến thái độ tích cực hoặc khuynh hướng cảm xúc mà mọi người có thể đạt được từ công việc hoặc thông qua các khía cạnh của công việc (Furnham, 1997; Locke, 1976). Ivancevich et al. (1997) đã định nghĩa sự hài lòng trong công việc là cảm giác và nhận thức của một người lao động về công việc của anh ấy/cô ấy và anh ấy/cô ấy cảm thấy mình tốt như thế nào trong một tổ chức.
Theo Hulin và Judge (2003), đã lưu ý rằng sự hài lòng trong công việc bao gồm các phản ứng tâm lý đa chiều đối với công việc của một cá nhân và các phản ứng cá nhân này có nhận thức (đánh giá), tình cảm (hoặc cảm xúc) và các thành phần hành vi. SVTH: Trần gọc Bình 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Diệu Linh Theo Spector (1997), ông cho rằng sự hài lòng trong công việc đơn thuần là sự yêu thích công việc và các khía cạnh công việc. Ông xem sự hài lòng trong công việc như một biến hành vi.
Hài lòng trong công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng chung với công việc. Theo Staples và Higgins (1998) sự hài lòng của nhân viên có thể được cảm nhận thông qua phạm vi của công việc và tất cả những thái độ tích cực đối với môi trường làm việc của họ. Gruneberg (1979) lại cho rằng, khi con người dành nhiều thời gian cho công việc, sự hiểu biết về những nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ trong công việc là rất quan trọng và cần thiết. Từ đó, ta có thể thuận lợi hơn cho việc cải thiện chúng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động trong công việc Điều kiện làm việc Bởi vì nhân viên dành rất nhiều thời gian trong môi trường làm việc của họ mỗi tuần, điều quan trọng là các công ty phải cố gắng tối ưu hóa điều kiện làm việc. N hững thứ như cung cấp khu vực làm việc rộng rãi thay vì chật chội, đủ ánh sáng và nơi làm việc thoải mái góp phần tạo nên điều kiện làm việc thuận lợi. Cung cấp các công cụ năng suất như công nghệ thông tin được nâng cấp để giúp nhân viên hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả hơn cũng góp phần mang lại sự hài lòng trong công việc. Cơ hội đào tạo thăng tiến N hân viên hài lòng hơn với công việc hiện tại nếu họ nhìn thấy con đường có sẵn để thăng tiến trong công ty và được giao nhiều trách nhiệm hơn cùng với đó là mức lương cao hơn.
N hiều công ty khuyến khích nhân viên học các kỹ năng nâng cao hơn để có cơ hội thăng tiến. Ví dụ, các công ty thường trả chi phí học phí cho nhân viên tham gia các khóa học nâng cao kỹ năng. Trong quá trình đánh giá hiệu suất hàng năm của nhân viên, người giám sát nên vạch ra lộ trình cho nhân viên thấy những gì họ cần hoàn thành và những kỹ năng mới mà họ cần phát triển để có thể tiến bộ trong tổ chức. Khối lượng công việc và mức độ căng thẳng Đối phó với khối lượng công việc quá nặng và thời hạn không thể đạt được có thể khiến sự hài lòng trong công việc bị xói mòn đối với ngay cả những nhân viên tận tâm nhất.
Việc không hoàn thành đúng thời hạn dẫn đến xung đột giữa nhân viên và SVTH: Trần gọc Bình 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. guyễn Thị Diệu Linh người giám sát và làm tăng mức độ căng thẳng tại nơi làm việc. N hiều khi, môi trường này là do quản lý kém hiệu quả và lập kế hoạch kém. Văn phòng hoạt động trong tình trạng khủng hoảng vì người giám sát không dành đủ thời gian để nhân viên thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả hoặc do trình độ nhân viên không tương xứng.
Tôn trọng từ đồng nghiệp N hân viên tìm cách được đối xử tôn trọng bởi những người mà họ làm việc cùng. Một môi trường làm việc thù địch – với những đồng nghiệp thô lỗ hoặc khó chịu – thường khiến mức độ hài lòng trong công việc thấp hơn. Các nhà quản lý cần can thiệp và hòa giải xung đột trước khi chúng leo thang thành những vấn đề nghiêm trọng hơn cần phải có biện pháp kỷ luật. N hân viên có thể cần được nhắc nhở về những hành vi được coi là không phù hợp khi tương tác với đồng nghiệp.
Mối quan hệ với cấp trên Các nhà quản lý hiệu quả biết rằng nhân viên của họ cần được công nhận và khen ngợi vì những nỗ lực và thành tích của họ. N hân viên cũng cần biết rằng cánh cửa của người giám sát luôn mở để họ thảo luận về bất kỳ mối quan tâm nào đang ảnh hưởng đến khả năng thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả và cản trở sự hài lòng của họ tại văn phòng. Kết quả cuối cùng Sự hài lòng trong công việc bị ảnh hưởng bởi quan điểm của nhân viên về sự công bằng trong thang lương của công ty cũng như khoản bồi thường hiện tại mà họ có thể nhận được. Các công ty cần có một cơ chế để đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên và tăng lương cho những người có thành tích tốt nhất.
Cơ hội nhận được các ưu đãi đặc biệt, chẳng hạn như tiền thưởng, thời gian nghỉ phép hoặc kỳ nghỉ có trả lương, cũng mang lại sự phấn khích và hài lòng trong công việc cao hơn cho nơi làm việc. Một số học thuyết và mô hình nghiên cứu liên quan về mức độ hài lòng của người lao động: 1. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow A.