Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Thuế nhập khẩu 2.
Khái niệm về thuế nhập khẩu Trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại trong từng thời kỳ. Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hàng hoá nhập khẩu bên ngoài và bảo bộ sản xuất trong nước. Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến thuế nhập khẩu theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế nhập khẩu vẫn là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhập khẩu, tuỳ thuộc vào từng góc độ tiếp cận.
Xét về phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hoạt động nhập khẩu hàng hóa qua biên giới của một nước. Với cách tiếp cận này, thuế nhập khẩu được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính phát sinh giữa các chủ thể là các tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là nhà nước. Mặt khác, thuế nhập khẩu còn là đòn bẩy kinh tế hay là biện pháp kinh tế để nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi của mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hình thành thu thuế nhập khẩu.
Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân người nộp thuế. Việc tiếp cận thuế nhập khẩu ở góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận rõ hơn bản chất của thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của một quốc gia đối với người đóng thuế. Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế nhập khẩu phù hợp với quyền lợi của quốc gia và người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ những góc nhìn khác nhau về thuế nhập khẩu, ta có thể khái quát về thuế nhập khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là loại thuế thu vào hàng hoá được phép giao thương qua biên giới các quốc gia, nhóm quốc gia, hình thành và gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế.
Thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa nhập khẩu; hàng hóa từ thị trường trong nước bán vào các khu phi thuế quan và ngược lại. Vai trò của thuế nhập khẩu Khi nói đến thuế nhập khẩu ta thường nói đến chính sách thuế nhập khẩu. Đây là một công cụ đặc biệt quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình. Vai trò của chính sách thuế nhập khẩu qua các thời kỳ là như nhau, tuy nhiên trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì thuế nhập khẩu còn thể hiện với vai trò là một công cụ để thực hiện các chính sách đối ngoại mà Việt Nam tham gia ký kết.
Thuế nhập khẩu có các vai trò sau: Một là, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, đây là mục tiêu sống còn của mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hoá thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thông qua việc kiểm tra thu thuế nhập khẩu để biết được thực chất hàng hóa qua cửa khẩu như thế nào, số lượng bao nhiêu… thì nhà nước mới kiểm soát được tất cả hàng hóa nhập khẩu. Kết hợp với chính sách ngoại thương thích hợp, nhà nước cho phép nhập khẩu hàng hóa gì, cấm nhập hàng hóa nào để có biện pháp xử lý kịp thời, không để lọt vào thị trường trong nước. Hai là, bảo hộ sản xuất trong nước.
Ngoài chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thuế nhập khẩu còn có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước thông qua việc tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường. Tuy nhiên tác động này chỉ ảnh hưởng lên giá cả chứ không làm chất lượng hàng hóa giảm xuống và mục tiêu này không bền vững, lâu dài và chỉ mang tính tình thế. Ba là, huy động nguồn lực cho NSNN. Khi thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và bảo hộ sản xuất trong nước, thuế nhập khẩu góp phần quan trọng trong việc hình thành nguồn thu cho NSNN.
Mặc dù quá trình tham gia, hội nhập kinh tế quốc tế thu thuế nhập khẩu ở mức cao vừa bảo hộ sản xuất trong nước, vừa đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Ngược lại, thu thuế nhập khẩu thấp, tức khuyến khích nhập khẩu, nhìn bề ngoài số thu đóng góp cho ngân sách thấp hoặc không đáng kể, nhưng xét trong tổng thể quy trình sản xuất xã hội, thì thu ngân sách sẽ tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm bằng các loại thuế nội địa. Bốn là, thực hiện các chính sách đối ngoại. Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với rất nhiều nước nước và vùng lãnh thổ, tham gia rất nhiều hiệp định thương mại, rất nhiều hiệp định hợp tác đầu tư, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70 nước, là thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2006.
Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan. Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia. Cho nên thuế quan còn có vai trò thực hiện chính sách đối ngoại với từng quốc gia trong từng thời kỳ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối tượng, căn cứ và phương pháp tính thuế nhập khẩu Đối tượng: Là loại thuế gián thu, đối tượng nộp thuế nhập khẩu khác với đối tượng chịu thuế nhập khẩu. Đối tượng chịu thuế nhập khẩu là người tiêu dùng, sử dụng hàng hoá, còn đối tượng nộp thuế lại là những cá nhân, tổ chức thực hiện hoặc được uỷ thác thực hiện nhập khẩu hàng hoá. Đối tượng nộp thuế nhập khẩu hàng hoá đối tượng nộp thuế nhập khẩu bao gồm: Chủ hàng hóa nhập khẩu: Chủ hàng hoá nhập khẩu là người có quyền sở hữu hàng hoá làm thủ tục nhập khẩu vào một quốc gia, lãnh thổ.
Khi thực hiện nhập khẩu hàng hoá, chủ hàng hoá nhập khẩu phải nộp thuế nhập khẩu. Chủ hàng hoá nhập khẩu có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức có tư cách pháp nhân. Tổ chức nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa: Trường hợp hàng chủ hàng hoá không trực tiếp làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá mà uỷ quyền cho một tổ chức khác thì tổ chức nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá là đối tượng nộp thuế nhập khẩu. Căn cứ: Căn cứ tính thuế nhập khẩu là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan, giá tính thuế, thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%); đối với mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối thì căn cứ tính thuế là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa.
Phương pháp tính thuế được quy định như sau: Số thuế nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với giá tính thuế và thuế suất của từng mặt hàng ghi trong Biểu thuế tại thời điểm tính thuế; Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng, gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường: Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác; Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam.