Chuyên đề thực tập nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên trường đại học kinh tế quốc dân

Chuyên đề thực tập nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân, phân tích chi tiết xu hướng tiêu dùng hiện đại.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Toán Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

chuyên đề thực tập chuyên ngành

2021

50
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.3. PHÂN LOẠI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MỘT SỐ THỐNG KÊ MÔ TẢ

3.2. KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH THANG ĐO

3.3. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.4. PHÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhu cầu mua sắm trực tuyến và sinh viên đại học kinh tế

Nghiên cứu tập trung vào nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên đại học kinh tế, đặc biệt là tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng trực tuyến được phân tích dựa trên các khía cạnh như thói quen mua sắm, xu hướng tiêu dùng, và công nghệ mua sắm. Sinh viên kinh tế, với kiến thức về kinh tế họcgiáo dục đại học, thường có nhận thức rõ ràng về lợi ích của mua sắm online. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm trực tuyến của nhóm đối tượng này.

1.1. Khái niệm và bối cảnh thương mại điện tử

Thương mại điện tử được định nghĩa là quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, đặc biệt là Internet. Sự phát triển của thị trường trực tuyến đã thay đổi cách thức tiêu dùng truyền thống. Tại Việt Nam, mua sắm trực tuyến đã trở thành xu hướng phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ và sinh viên. Nghiên cứu này tập trung vào phân tích nhu cầutác động mua sắm của sinh viên kinh tế, nhóm đối tượng có khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ cao.

1.2. Đặc điểm hành vi tiêu dùng của sinh viên kinh tế

Sinh viên kinh tế thường có xu hướng tìm kiếm thông tin sản phẩm và so sánh giá cả trước khi quyết định mua hàng. Hành vi tiêu dùng của họ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như giá cả, chất lượng sản phẩm, và dịch vụ hậu mãi. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thói quen mua sắm của sinh viên kinh tế thường gắn liền với việc sử dụng các thiết bị di động và ứng dụng mua sắm trực tuyến. Điều này phản ánh sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng hiện đại.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm trực tuyến

Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng chính đến nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên kinh tế, bao gồm giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, và công nghệ mua sắm. Các yếu tố này được phân tích dựa trên mô hình lý thuyết hành vi dự định và mô hình chấp nhận công nghệ. Kết quả cho thấy, giá cảchất lượng sản phẩm là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định mua sắm trực tuyến của sinh viên.

2.1. Giá cả và chất lượng sản phẩm

Giá cả là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên. Sinh viên kinh tế thường có ngân sách hạn chế, do đó họ có xu hướng tìm kiếm các sản phẩm có giá cả phải chăng. Chất lượng sản phẩm cũng là yếu tố quan trọng, đặc biệt khi mua sắm trực tuyến không cho phép kiểm tra trực tiếp sản phẩm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên thường dựa vào đánh giá và phản hồi của người dùng khác để đánh giá chất lượng sản phẩm.

2.2. Dịch vụ khách hàng và công nghệ mua sắm

Dịch vụ khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tin và sự hài lòng của khách hàng. Sinh viên kinh tế thường đánh giá cao các trang web cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng nhanh chóng và hiệu quả. Công nghệ mua sắm, bao gồm giao diện trang web và ứng dụng di động, cũng ảnh hưởng đến trải nghiệm mua sắm trực tuyến. Nghiên cứu cho thấy, các trang web có giao diện thân thiện và dễ sử dụng thường thu hút nhiều sinh viên hơn.

III. Phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nhu cầu mua sắm trực tuyến. Kết quả cho thấy, giá cảchất lượng sản phẩm có tác động mạnh nhất, tiếp theo là dịch vụ khách hàngcông nghệ mua sắm. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện trải nghiệm mua sắm trực tuyến cho sinh viên kinh tế, bao gồm việc tối ưu hóa giá cả và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.

3.1. Kết quả phân tích hồi quy

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, giá cả có hệ số ảnh hưởng cao nhất (β = 0.45), tiếp theo là chất lượng sản phẩm (β = 0.38). Dịch vụ khách hàngcông nghệ mua sắm có hệ số ảnh hưởng thấp hơn, lần lượt là β = 0.25 và β = 0.18. Điều này khẳng định tầm quan trọng của giá cảchất lượng sản phẩm trong việc thúc đẩy nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên kinh tế.

3.2. Đề xuất giải pháp

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giải pháp được đề xuất bao gồm việc tối ưu hóa giá cả thông qua các chương trình khuyến mãi và giảm giá. Nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách cung cấp thông tin chi tiết và đánh giá từ người dùng. Cải thiện dị vụ khách hàng thông qua việc hỗ trợ trực tuyến 24/7 và xử lý khiếu nại nhanh chóng. Cuối cùng, đầu tư vào công nghệ mua sắm để tạo ra giao diện thân thiện và dễ sử dụng cho người dùng.

21/02/2025
Chuyên đề thực tập nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên trường đại học kinh tế quốc dân

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET 1. CÁC KHÁI NIỆM VE THƯƠNG MAI ĐIỆN TU Khái niệm thương mại điện tử thường bị đồng nhất với khái niệm kinh doanh điện tử. Tuy nhiên thực chất kinh doanh điện tử là khái niệm rộng hơn của thương mại điện tử, nó không chỉ dừng lại ở việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, chuyên giao quyền sở hữu thông qua mạng máy tính và truyền thông mà nó còn đỏi hỏi sự cộng tác cao giữa các bên tham gia vào hoạt động. Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp Thuong mại điện tử là quá trình mua, ban, trao đôi hàng hóa, dịch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, bao gồm mạng Internet.

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử đơn giản chỉ là việc tiễn hành các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Phương tiện điện tử và mạng viễn thông sử dung phô biến trong thương mại điện tử là điện thoại, ti vi, máy fax, mạng truyền hình, mạng internet, mạng intranet, mạng extranet.trong đó máy tính và mạng Internet là được sử dụng nhiều nhất dé tiến hành các hoạt động thương mại điện tử vì nó có khả năng tự động hóa cao các giao dịch. Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử không chỉ dừng lại ở việc mua bán hang hóa và dịch vụ, mà nó còn mở rộng ra cả về quy mô và lĩnh vực ứng dụng. Hiện nay có rất nhiều tổ chức đưa ra khái niệm về thương mại điện tử như Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Hiệp hội thương mại điện tử (AEC — Association for Electronic Commerce), bên cạnh đó còn một số tổ chức khác như: UNCTAD (United Nation Conference on Trade and Development): ¢ Dưới góc độ doanh nghiệp, thương mại điện tử bao gồm các hoạt động của doanh nghiệp, theo chiều ngang: “Thương mại điện tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử”.

Khái nệm này đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉ giới hạn ở riêng mua và bán, toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP, trong đó: M - Marketing (có trang web, hoặc xúc tiến thương mai qua internet) 11175344 — Bui Thế Vỹ Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh Tế S - Sales (có trang web có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng) D - Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng) P - Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua ngân hàng) Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia thương mại điện tử. * Dưới góc độ quan lý nhà nước, thương mại điện tử bao gồm các lĩnh vực: I - Cơ sở hạ tang cho sự phát triển thương mại điện tử (1) M - Thông điệp (M) B - Các quy tắc cơ bản (B) S - Các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực (S) A - Các ứng dung (A) Mô hình IMBSA này đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển thương mại điện tử: I - Infrastructure: Cơ sở hạ tang “Công nghệ thông tin” và truyền thông là yêu cầu đầu tiên dé phát triển thương mại điện tử. M - Message: Các vấn đề liên quan đến “thông điệp dữ liệu”.

Thông điệp chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng trong thương mại điện tử. Ví dụ như hợp đồng điện tử, các chào hàng, hỏi hàng qua mạng, các chứng từ thanh toán điện tử. đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu”. B - Basic Rules: Các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về thương mại điện tử: chính là các luật điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến thương mại điện tử trong một nước hoặc khu vực và quốc tế như các quy định về thương mại của WTO, quy định về sở hữu trí tuệ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO.

S - Sectorial Rules/ Specific Rules: Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu của Thương mại điện tử như: chứng thực điện tử, chữ ký điện tử, Ngân hàng điện tử (thanh toán điện tử). 11175344 — Bùi Thế Vỹ Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh Tế A - Applications: Được hiểu là các ứng dụng thương mại điện tử, hay các mô hình kinh doanh thương mại điện tử cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích dé phát triển, trên cơ sở đã giải quyết được 4 van dé trên. UNCITRAL (UN Conference for International Trade Law) Luật mẫu về Thương mại điện tử (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce, 1996): Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mai thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bat cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch. Vấn đề “thông tin” và “thương mại” trong luật mẫu về thương mại điện tử của UNCTTRAL được hiểu như sau: + “Thông tin” được hiểu là bat cứ thứ gì có thé truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản thiết kế, hình đồ hoạ, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh.

* “Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát mọi van đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; uy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; dau tư cấp vốn; ngân hang; bảo hiểm; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Thương mại điện tử là việc tiễn hành các hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử. Theo như định nghĩa này thì thương mại điện tử bắt đầu từ rất sớm, kể từ khi Samuel Morse gửi bức điện đầu tiên vào năm 1844.

Hay là việc gửi các thông tin về giá cổ phiếu của thị trường chứng khoán Mỹ từ Bắc Mỹ tới Châu Âu vào năm 1858. Vào đầu những năm 1970 với sự ra đời của công nghệ EDI (trao đổi dữ liệu điện tử), EFT (trao đổi tiền điện tử), IOS (hệ thống liên kết các tô chức), thương mại điện tử cho phép doanh nghiệp, cá nhân gửi các chứng từ thương mại như đơn hàng, hóa đơn, vận đơn và các chứng từ về việc vận chuyển hàng hóa thương mại, chuyên tiền giữa các tổ chức với nhau hoặc giữa tổ chức với khách hàng cá nhân, đặt cho và mua bán chứng khoán. 10 11175344 — Bùi Thế Vỹ Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh Tế Sự ra đời và phát triển của thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động và giao dịch ngân hàng qua điện thoại vào những năm 1980 cũng là hình thức của thương mại điện tử, tuy nhiên những hoạt động nêu trên mới chỉ là giai đoạn sơ khai. Thương mại điện tử chỉ thực sự được biết đến vào đầu thập niên 1990 khi mà Internet được đưa vào thương mại hóa, phô biến rộng rãi cũng như có sự ra đời của trình duyệt Netscape giúp cho người dùng Internet dễ dàng truy cập và đánh giá thông tin.

Thương mại điện tử bắt nguồn từ nước Mỹ với sự ra đời của hàng loạt website thương mại điện tử và sau lan sang Canada và các nước Châu Âu. Bước đột phá trong quá trình hình thành và phát trién của thương mại điện tử phải kê đến sự xuất hiện của Amazon.comtrang web mua bán trực tuyến và Ebay - trang web dau giá trực tuyến vào năm 1995. Đây được xem là hai doanh nghiệp đi tiên phong và thành công trong việc triển khai hoạt động thương mại điện tử. PHAN LOẠI THUONG MẠI ĐIỆN TỬ Phân loại thương mại điện tử theo các đối tượng tham gia vào g1ao dịch thì trên thế giới hiện nay có rất nhiều mô hình thương mại điện tử khác nhau.

Dưới đây là một số mô hình thương mại điện tử đã và đang phát triển: B2B (Business — To — Business): Là mô hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ tiến hành trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thông tin với nhau thông qua fax và mạng Internet. Hình thức chủ yếu của mô hình thương mại điện tử B2B đó là bán hàng và hỗ trợ kinh doanh cho các doanh nghiệp trực tiếp qua mạng; mua sắm nguyên phụ liệu cho quá trình sản xuất từ các nhà cung cấp hay qua hình thức đấu giá; hay là trang tin cung cấp thông tin về một mặt hàng của doanh nghiệp.com là những công ty tiên phong và thành công với mô hình kinh doanh B2B. Mô hình thương mại điện tử B2B xuất hiện từ rất sớm nhưng chỉ thực sự khởi sắc vào đầu những năm 2000.

Người ta dự đoán răng mô hình thương mại điện tử B2B sẽ còn phát triển hơn nữa trong tương lai. Đây là mô hình thương mại điện tử xuất hiện sớm nhất. Ung dụng phổ biến nhất của mô hình này đó là mua sắm hàng hóa và dịch vụ, quản lý tài chính cá nhân. Hiện nay mô hình thương mại điện tử B2C có khối lượng giao dịch lớn nhất tuy nhiên giá trị giao dịch từ mô hình này vẫn còn thấp.

Nếu phân chia mô hình thương mại điện tử B2C theo mức độ thương mại điện tử hóa thì có thể có 2 loại: Mô hình thương mại điện tử B2C thuần túy (www.com) và mô hình thương mại điện tử bán truyền thống (www. Triển khai mô hình thương mại điện tử B2C trước tiên giúp cho các doanh nghiệp loại bỏ bớt trung gian, nhờ vậy sẽ cắt giảm được chi phí, nâng cao hiệu qua kinh doanh. Thứ hai, giúp cho doanh nghiệp có thể cá biệt hóa sản phẩm dịch vụ, quảng cáo, hay dịch vụ khách hàng. Thông qua mô hình này doanh nghiệp có thé tiễn hành nghiên cứu thị trường trực tuyến cũng như biết được thói quen của khách hàng thông qua các phần mềm cookie.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm trực tuyến của sinh viên đại học kinh tế" đi sâu vào phân tích các yếu tố then chốt tác động đến hành vi mua sắm online của nhóm đối tượng sinh viên kinh tế. Nghiên cứu này thường tập trung vào các yếu tố như: sự tiện lợi, giá cả, đánh giá của người dùng, chất lượng sản phẩm, các chương trình khuyến mãi, cũng như ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và xã hội. Việc hiểu rõ những yếu tố này giúp các doanh nghiệp và nhà bán lẻ trực tuyến xây dựng các chiến lược marketing và bán hàng hiệu quả hơn, nhắm đúng mục tiêu và thu hút được lượng khách hàng tiềm năng là sinh viên.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố tác động đến quyết định mua hàng trực tuyến của sinh viên trên một nền tảng cụ thể, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Phân tích các nhân tố tác động đến quyết định mua hàng trên trang thương mại điện tử lazada của sinh viên trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh". Tài liệu này tập trung vào phân tích hành vi mua sắm của sinh viên trên Lazada, một trong những sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam, và sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn chi tiết hơn về các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của họ trên nền tảng này.