CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Sự thay đổi nhu cầu thị trường về an toàn thực phẩm dẫn đến áp lực thay đổi phương thức sản xuất của các doanh nghiệp, các hộ gia đình trong nông nghiệp. Nhiều hình thức hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị. Tình trạng người dân sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón độc hại trong nông nghiệp còn phổ biến dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm nguồn nước và thải ra một lượng lớn hóa chất nông nghiệp, các chất hữu cơ, dư lượng thuốc, trầm tích và chất thải độc hại. Trong những năm gần đây, người tiêu dùngViệt Nam chi tiêu vào thực phẩm an toàn, sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ ngày càng cao do sự gia tăng thu nhập, trình độ giáo dục được nâng cao.
Từ đó, việc liên kết trong sản xuất thực phẩm giúp người nông dân từng bước thay đổi tập quán trong sản xuất, kinh doanh từ nhỏ lẻ manh mún, lạc hậu sang sản xuất có tổ chức, áp dụng kiến thức khoa học - kỹ thuật. Thực tế, hoạt động liên kết sản xuất rau quả trong thời gian qua cũng bộc lộ những khó khăn như: Các hình thức liên kết trong sản xuất sản phẩm vẫn còn ở quy mô nhỏ; chi phí đầu ra sản phẩm tăng cao; sự liên kết giữa doanh nghiệp, nông dân còn lỏng lẻo; lợi ích và trách nhiệm của các bên chưa ổn định và dài hạn; nhiều nông dân chưa quen tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt. Hơn nữa, các hình thức liên kết cũng chưa chú trọng đẩy mạnh các biện pháp giải quyết đầu ra cho rau quả trong cộng đồng. Bên cạnh đó, vai trò quản lý của hợp tác xã còn hạn chế nên việc giải quyết đầu ra để tiêu thụ rau quả còn gặp khó khăn.
Sự chênh lệch giá bán giữa rau quả an toàn và rau quả thường không đáng kể, trong khi đầu tư cho sản xuất rau quả an toàn cao hơn so với sản xuất thông thường nên không khuyến khích được người nông dân mạnh dạn đầu tư và mở rộng diện tích canh tác. Đồng thời, việc thiếu hợp tác marketing nên các hình thức liên kết sản xuất vẫn khó tìm các nhà trung gian để đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối, bị ép 20 giá hoặc khó tìm kiếm các nhà xuất khẩu. Từ đó, việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cũng như tạo dựng, duy trì mối liên kết với người dân không bền vững, tình trạng phá vỡ hợp đồng giữa người dân và doanh nghiệp hoặc hợp tác xã xảy ra. Hiện nay, có một số nghiên cứu về hợp tác của nông dân về sản phẩm nông nghiệp với những yếu tố liên quan như: cơ sở hạ tầng, sản phẩm, labeling, thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, giao tiếp.
Tuy nhiên, hành động hợp tác marketing trong lĩnh vực thực phẩm vẫn là một chủ đề mới nổi trong tài liệu học thuật ở các nước mới nổi và đang phát triển như Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu, khuyến khích nông dân tham gia trồng rau quả an toàn và có nguồn thu nhập ổn định cần phải liên kết hợp tác marketing để giải quyết đầu ra. Thông qua nghiên cứu nhằm đề xuất các doanh nghiệp, các cơ quan ban ngành, các viện nghiên cứu có giải pháp tăng cường các hình thức hợp tác marketing nhằm giải quyết tình trạng được mùa mất giá trong nông nghiệp, kích thích người dân sử dụng phương thức canh tác sản phẩm an toàn và tạo điều kiện sản phẩm rau quả tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước thuận lợi hơn. Từ những phân tích nêu trên, nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hợp tác marketing của nông dân đối với thực phẩm rau quả” cho nghiên cứu ca nhóm.2 Mục tiêu của đề tài c) Mục tiêu tổng quát.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hợp tác marketing của các hộ nông dân vừa và nhỏ đối với sản phẩm rau quả. d) Mục tiêu cụ thể. (1) Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hợp tác marketing của nông dân đối với sản phẩm rau quả; (2) Đo lường mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hợp tác marketing của nông dân; (3) Đề xuất các hàm ý quản trị cho các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp tác marketing của nông dân nhằm giải quyết đầu ra cho sản phẩm rau quả.3 Câu hỏi nghiên cứu - Những nhân tố nào ảnh hưởng đến đến ý định tham gia hợp tác marketing của các hộ nông dân vừa và nhỏ đối với sản phẩm rau quả? - Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến ý định tham gia hợp tác marketing của nông dân? - Một số hàm ý quản trị nào giúp nâng cao ý định tham gia hợp tác marketing của nông dân? 1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu: Người nông dân tại Tiền Giang, Long An - Thời gian: Từ tháng 03/2021 đến tháng 03/2022 1. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hợp tác marketing của các hộ nông dân vừa và nhỏ đối với sản phẩm rau quả. - Đối tượng khảo sát: Người nông dân sản xuất rau quả vừa và nhỏ tại 2 tỉnh Miền Tây: Tiền Giang và Long An.5 Phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu này, Chúng tôi sử dụng chủ yếu 2 phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp nghiên cứu định tính: Nghiên cứu mô hình được tham khảo các lý thuyết liên quan, các bài báo khoa học, tài liệu, các nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước nhằm đưa ra mô hình nghiên cứu và thang đo nhằm thực hiện cho việc nghiên cứu sơ bộ của đề tài. Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp này được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của thang đo sơ bộ để đưa ra bảng khảo sát chính thức nhằm xác định mức độ tác 22 động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hợp tác marketing của nông dân.
Việc kiểm định thang đo liên quan hệ số đáng tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy và Anova dựa trên kết quả xử lý số liệu thống kê SPSS cũng được thực hiện.6 Ý nghĩa của bài nghiên cứu Hiện nay, có một số nghiên cứu về hợp tác của nông dân về sản phẩm nông nghiệp với những yếu tố liên quan như: cơ sở hạ tầng, sản phẩm, labeling, thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, giao tiếp. Tuy nhiên, hành động hợp tác marketing trong lĩnh vực thực phẩm vẫn là một chủ đề mới nổi trong tài liệu học thuật ở các nước mới nổi và đang phát triển như Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu, khuyến khích nông dân tham gia trồng rau quả an toàn và có nguồn thu nhập ổn định cần phải liên kết hợp tác marketing để giải quyết đầu ra. Thông qua nghiên cứu nhằm đề xuất các doanh nghiệp, các cơ quan ban ngành, các viện nghiên cứu có giải pháp tăng cường các hình thức hợp tác marketing nhằm giải quyết tình trạng được mùa mất giá trong nông nghiệp, kích thích người dân sử dụng phương thức canh tác sản phẩm an toàn và tạo điều kiện sản phẩm rau quả tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước thuận lợi hơn.
Từ những phân tích nêu trên, nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hợp tác marketing của nông dân đối với thực phẩm rau quả” cho nghiên cứu cấp cơ sở.7 Bố cục đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của đề tài nghiên cứu được xây dựng gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Giới thiệu tổng quan về hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 23 Chương này giới thiệu các khái niệm, các lý thuyết về hành vi tiêu dùng, ý định mua, đồng thời tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước có liên quan, trên cơ sở đó đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này thể hiện tiến trình nghiên cứu, thông tin được thu thập, mô hình nghiên cứu, thang đo, công cụ phân tích và kiểm định kết quả nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về thực trạng sản xuất rau quả, phân tích dữ liệu và kiểm định kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Từ quá trình nghiên cứu và kết quả phân tích, các hàm ý quản trị được đề xuất nhằm cải thiện hợp tác marketing trong sản xuất rau quả. 24 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về rau quả Rau quả được hiểu là những sản phẩm rau quả tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt, các loại nấm thực phẩm) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo quy định kỹ thuật; bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa cho phép.
Theo thông tư 59/2012/BNNPTNT đã mở rộng khái niệm rau an toàn với 3 tiêu chuẩn về sản xuất rau được công nhận an toàn tại Việt Nam bao gồm: Rau đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm; Rau được sản xuất theo quy trình được chứng nhận an toàn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Rau đạt tiêu chuẩn quy trình VietGAP hoặc tương đương. Ngoài ra, những tiêu chuẩn để đánh giá rau quả an toàn là: Dư lượng chất bảo vệ thực vật; nguồn nước tưới; phòng ngừa sâu bệnh; thu hoạch và bảo quản, tuy nhiên Việt Nam hiện chưa có tiêu chuẩn này (Nguyễn Văn Cường và cộng sự, 2019).2 Khái niệm về ý định Theo Ajzen (1991), ý định là một tình huống tư duy bao gồm kinh nghiệm và hành vi cá nhân cho một mục đích cụ thể hoặc một hành vi nhất định. Ở khái niệm này cho thấy ý định hướng đến mục tiêu thông qua việc suy nghĩ kỹ càng trước khi thực hiện một hành vi nào đó.