Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu: Cung cấp những thông tin tổng quan về đề tài, những lý do nhóm tác giả chọn đề tài, các vấn đề và mục tiêu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu lý thuyết và các bài nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu để dựa trên tiền đề đó kế thừa và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Trong đó biến phụ thuộc là hành vi sử dụng bình nước cá nhân và biến độc lập là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày các phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo và bảng hỏi điều tra khảo sát, thu thập dữ liệu, thông tin về mẫu và các bước phân tích dữ liệu.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Từ kết quả của dữ liệu được thu thập và thiết kế ở chương 3, chương 4 sẽ lần lượt thực hiện các phân tích gồm có kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, hàm ý quản trị và kiến nghị: Dựa trên kết quả thu được ở chương 4, chương 5 sẽ phân tích kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đồng thời trình bày các hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu mới cho các bài nghiên cứu tiếp theo.14: Kết quả rút trích nhân tố biến phụ thuộc.15: Kết quả xoay nhân tố biến phụ thuộc .16: Kết quả kiểm định sử tương quan .17: Kết quả phân tích hồi qui .18: Mức độ giải thích mô hình .19: Kết quả kiểm định ANOVA hồi qui .20: Kết quả Leneve của Independent T-test .21: Kết quả Leneve của Independent T-test .22: Kết quả kiểm định ANOVA giữa sinh viên các năm học khác nhau.23: Kết quả kiểm định ANOVA theo sinh viên ở các năm học khác nhau. 68 0 0 xi 0 0 TÓM TẮT ĐỀ TÀI Mục tiêu của đề tài là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó hướng đến việc nâng cao nhận thức về hành vi bảo vệ môi trường.
Đánh giá mức độ nhận thức qua các yếu tố ảnh hưởng, xây dựng mô hình kiểm chứng mối quan hệ, đo lường và kiểm định mức độ khác nhau giữa các yếu tố ảnh hưởng và hành vi sử dụng bình nước cá nhân. Nhóm tác giả đã tham khảo các đề tài liên quan. Sau đó, đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết bao gồm các yếu tố: (1) Quan tâm về môi trường, (2) Nhận thức tính hiệu quả và cấu tạo của bình nước cá nhân, (3) Tác động về giá, (4) Tính sẵn có và thuận tiện khi mua hàng, (5) Tác động về chiêu thị, (6) Nhóm tham khảo. Sau khi chạy các kết quả cho ra được hệ số beta chuẩn hóa các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân từ thấp đến cao là (1) Nhận thức tính hiệu quả và cấu tạo của bình nước cá nhân (-0.137), (2) Nhóm tham khảo (0.032), (3) Tác động về chiêu thị (0.055), (4) Tác động về giá (0.127), (5) Tính sẵn có và thuận tiện khi mua hàng (0.170), (6) Quan tâm về môi trường (0.
Nhóm tác giả đã đưa ra sự đóng góp của nghiên cứu và đề xuất một số kiến nghị cho chính phủ, nhà trường giúp cải thiện thói quen sử dụng bình nước cá nhân và ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Keywords: Bình nước cá nhân, Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân, Sinh viên TPHCM dùng bình nước cá nhân, Nghiên cứu hành vi sử dụng bình nước cá nhân. 0 0 xii 0 0 ABSTRACT The objective of the study is to determine the factors affecting the behavior of using personal water bottles of students in Ho Chi Minh City, thereby aiming to raise awareness about environmental protection behavior. Assess the level of awareness through influencing factors, build a model to test the relationship, measure and test the degree of difference between influencing factors and the behavior of using personal water bottles.
The authors have consulted related topics. Then, a theoretical research model is proposed that includes the following factors: (1) Environmental concerns, (2) Perceived effectiveness and structure of individual water bottles, (3) Price impact, (4) Availability and convenience of purchase, (5) Promotional impact, (6) Reference group. After running the results, the factors affecting the behavior of using personal water bottles from low to high are (1) Perceived effectiveness and structure of individual water bottles (-0.127) (5) Availability and convenience of purchase (0. The authors contributed the research and proposed several recommendations to the government and schools to help improve the habit of using personal water bottles and the awareness of environmental protection among students in Ho Chi Minh City.
Keywords: personal water bottles, factors affecting the behavior of using personal water bottles of students in Ho Chi Minh City, students in Ho Chi Minh City using personal water bottles, researching the behavior of using personal water bottles. xiii 0 0 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm do chất thải nhựa gây ra cho môi trường. Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm, người dân có hơn 1,8 triệu tấn rác thải nhựa được thải ra, nhưng chỉ 27% trong số đó được tái chế.
Lượng tiêu thụ nhựa tính trên đầu người ở Việt Nam qua mỗi năm đã tăng mạnh lên mức khoảng 40kg nhựa/người và là một trong 4 quốc gia tại châu Á phát sinh chất thải nhựa nhiều nhất. Số lượng bao bì nhựa và túi nilon sử dụng ngày càng gia tăng ở Việt Nam dẫn đến lượng thải bỏ cũng tăng dần theo từng năm. Đặc biệt, rác thải nhựa có tính chất khó phân hủy, có thể tồn tại hàng trăm năm, gây ô nhiễm môi trường, đe dọa hệ sinh thái và tác động trực tiếp đến chất lượng0 cuộc0sống, sức khỏe người dân và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 33/CT-TTg về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa.
Chỉ thị nêu rõ, ô nhiễm nhựa đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất mà các quốc gia đang phải đối mặt. Mỗi năm lượng chất thải nhựa do con người thải ra trên phạm vi toàn cầu đủ để phủ kín 4 lần diện tích bề mặt trái đất, trong đó 13 triệu tấn chất thải nhựa được đổ ra đại dương. Việc lạm dụng sử dụng sản phẩm nhựa, nhất là túi nilon khó phân hủy, sản phẩm nhựa dùng một lần đã và đang để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường. Vấn đề ô nhiễm nhựa, đặc biệt là ô nhiễm nhựa đại dương là vấn đề thực sự đáng báo động, đã, đang và sẽ gây thiệt hại to lớn cho môi trường sinh thái ở nước ta.
Năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào chống chất thải nhựa trên toàn quốc, nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương, doanh nghiệp và các cá nhân đã có nhiều hành động thiết thực, ý nghĩa, hiệu quả để chống, giảm thiểu chất thải nhựa. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 nên hành vi tiêu dùng của người dân có sự thay đổi lớn. Các nghị định cách ly xã hội được thực hiện, mua sắm online bùng nổ một cách mạnh mẽ. Theo báo Tuổi trẻ, trong giai đoạn dịch vừa qua, có đến 75% người dân sống tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội sử dụng dịch vụ mua đồ ăn trực tuyến (Rác thải nhựa tăng lên đáng kể, cần chung tay giảm thiểu ngay lúc này, 04/12/2020).
Việc mua đồ và giao đồ tận nơi đã khiến lượng rác thải nhựa tăng lên đáng kể, chưa kể các mặt hàng tiêu dùng online khác đều được đóng gói bằng túi nilon để giao đi. Như vậy, bài toán giải quyết vấn đề rác thải nhựa lại càng khó khăn cho các cơ quan chức năng. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng xã hội đã và đang quan tâm tới vấn đề tác hại các sản phẩm khó phân huỷ với nhiều giải pháp được đưa ra áp dụng bao gồm cả các giải pháp hành chính cũng như các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức như tổ chức các chiến dịch truyền thông “nói không với túi ni lông”, “ngày 1 0 0 không túi ni lông”, “ngày hội tái chế chất thải” … ; hoặc việc khuyến khích áp dụng các giải pháp sản xuất túi sinh học tự phân hủy, túi thân thiện với môi trường ở một số doanh nghiệp, sử dụng các bình nước cá nhân thay thế các loại chai nhựa… nhằm hạn chế tác động tiêu cực của loại rác thải này tới môi trường. Thời gian qua giới khoa học có nhiều nghiên cứu về tác hại của các sản phẩm khó phân huỷ tới môi trường và cũng có những cuộc vận động, tuyên truyền người dân sử dụng các sản phẩm thay thế, đặc biệt là sử dụng các bình nước xách tay thay thế cho sản phẩm khó phân huỷ nhưng việc làm thay đổi nhận thức và hành vi của người dân vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn.
Do đó, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích tìm hiểu nhận thức của sinh viên về tác hại của các sản phẩm khó phân hủy gây ô nhiễm môi trường, để đề xuất các giải pháp thúc đẩy quyết định sử dụng sản phẩm xanh – cụ thể hơn là sản phẩm bình nước xách tay cho cá nhân mỗi người sử dụng của sinh viên, thành phần đang là đối tượng đông đảo, thành phần tri thức, quan tâm đến các vấn đề môi trường, xã hội. T ừ đó các doanh nghiệp, cơ quan chức năng có thể đưa ra những chiến lược phù hợp để khuyến khích tiêu dùng xanh, đạt được mục tiêu cả về ngắn hạn và dài hạn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.