Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này tác giả nêu lý do tác giả thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể cho luận văn, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và cuối cùng kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này tác giả trình bày khái niệm, lý thuyết nền liên quan tới hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên, đồng thời lược khảo nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại NH TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam khu vực tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này tác giả trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu luận văn, các bước nghiên cứu định tính, định lượng và phương pháp xử lý dữ liệu cho nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên tại BIDV khu vực tỉnh Đồng Nai thông qua nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này tác giả đưa ra kết luận, hàm ý quản trị cho nghiên cứu và đưa ra những hạn chế của nghiên cứu, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho các tác giả nghiên cứu về sau. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tri thức và thông tin Theo Davenport và Prusak (1998) định nghĩa tri thức là một tập hợp bao “ gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin, và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức được tạo ra và ứng dụng trong đầu óc của những người có nó. Trong một tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các văn bản và tài liệu, mà còn nằm trong thủ tục, quy trình, thông lệ và nguyên tắc của tổ chức đó.
Tri thức được đúc kết từ thực tế, tri thức là tầm hiểu biết và kiến thức của con người. Những dữ liệu thô được con người đúc kết và trở thành tri thức và tri thức sử dụng cụ thể cho một mục đích nào đó nhằm tạo ra giá trị cho con người. Định nghĩa tri thức của Von Krogh, G. and Nonaka, I (2000) có phạm vi rộng hơn và được cho là một quá trình thường xuyên của con người trong việc biện minh cho niềm tin cá nhân đối với chân lý.
Theo các tác giả này thì thông tin là một dòng chảy các thông điệp, và tri thức được tạo ra khi dòng chảy các thông điệp này tương tác với niềm tin và sự cam kết của chủ nhân những thông điệp trên. Thông tin chính là những thông báo, giải thích, hay trao đổi về một đối tượng cụ thể nào đó mà được thể hiện qua các tín hiệu nhận được dưới hình thức chữ số, chữ viết hay âm thanh…nhằm cung cấp thông tin một cách cụ thể về sự hiểu biết cho người nhận tin. Ngoài ra, thông tin còn phản ánh tất cả các ý tưởng, sự kiện cũng như sự việc, vấn đề phán đoán làm gia tăng them sự hiểu biết cho người nhận tin trong quá trình giao tiếp với nhau hoặc có thể thông qua các phương tiện truyền thông, từ các nguồn dữ liệu quan sát được trong môi trường xung quanh. Khái niệm về thông tin chính là việc xem xét, đánh giá tới các sự vật và hiện tượng có ở xung quanh chúng ta.
Ví dụ cụ thể như: Những thông tin liên quan tới thời tiết, thời sự, giá cả,… Hầu hết những thông tin này có được nhờ vào việc học hỏi, rèn luyện, trao đổi, cảm nhận,… Mọi thông tin sẽ được lưu giữ bằng hình thức 6 văn bản hay truyền miệng nhau; đối với loại hình công nghệ thông tin (CNTT) lại được lưu giữ dựa trên dạng thông tin điện tử như video, nhạc. Nội dung của thông tin thực chất là một loại dữ liệu, sẽ được đi kèm với một số mục đích, liên kết hay sẽ trở thành kiến thức giúp sử dụng để tiến hành so sánh, nhận định cũng như tạo dựng mối liên hệ và dùng để thực hiện một sự đối thoại. Thông tin là dữ liệu trong bối cảnh có thể sử dụng cho việc ra quyết định. Dữ liệu luôn được sắp xếp để tạo ra ý nghĩa cho người nhận, có thể là văn bản, hình ảnh, đoạn phim, hoặc cuộc hội thoại với người khác.
Từ các nghiên cứu trước đây, đã chỉ ra được ba đặc điểm giúp nhận biết giữa tri thức và thông tin. Yếu tố thứ nhất phải kể tới đó là tri thức mang ý nghĩa nhằm thể hiện một quan điểm cụ thể nào đó, các suy nghĩ khác nhau hoặc nhận định mang tính cá nhân. Vì thế mà nó khác hoàn toàn với thông tin, tri thức thuộc về nhân tố niềm tin và sự cam kết. Thứ hai, mọi tri thức sẽ đều đưa tới một kết quả, tức là tri thức có mối liên hệ với các hành động.
Thứ ba, yếu tố tri thức luôn đi cùng với một hoàn cảnh, các mối liên hệ, chính vì thế mà tri thức sẽ có ý nghĩa.2 Quản lý tri thức Theo Armstrong (2009) thì việc quản lý tri thức là bất kỳ quá trình của việc tạo ra, tiếp thu, nắm bắt, chia sẻ, và sử dụng tri thức ở bất kỳ nơi nào, để nâng cao sự học hỏi và hiệu quả làm việc trong các tổ chức, là quá trình quản lý và thúc đẩy các kiến thức của tổ chức một cách tự động và tích cực. Quản lý tri thức giúp tổ chức nâng cao lợi thế cạnh tranh. Bất kỳ sáng kiến, kế hoạch, chương trình, hệ thống hay sự thay đổi nhu cầu đều đặn cần có chiến lược rõ ràng. Theo Conley và Zheng (2009), chiến lược quản lý tri thức được lựa chọn bởi tổ chức, cần phải phù hợp và tích hợp tốt với chiến lược tổng thể của tổ chức.
Việc điều hành cũng như quản lý tri thức sẽ diễn ra theo hai hướng đó là dựa trên cá nhân hóa và dựa vào việc hệ thống hóa. Về cá nhân hóa thì công tác chia sẻ tri thức được xem như một hoạt động mang tính cá nhân, dựa trên sự phát triển và mong muốn chia sẻ của cá nhân đó diễn ra trong quá trình tương tác lẫn nhau. Đối với việc hệ thống hóa, nguồn tri thức sẽ được lưu giữ và tập trung tại bộ phận dữ liệu của đơn vị, sau đó sẽ được cung cấp cho toàn bộ nhân viên sử dụng. Dựa trên đặc điểm, tính chất mà các tổ chức có thể sử dụng nó nhằm tạo ra lợi nhuận, nếu tổ 7 chức chuyển sang quá trình sản xuất hàng hóa đặc biệt, cần có sự sáng tạo thì cần đề cập nhiều tới cá nhân hóa.
Yếu tố quản lý tri thức được biết đến như một khái niệm khá rộng, trong đó có nhiều yếu tố như chia sẻ tri thức (knowledge sharing), truyền tải tri thức (knowledge transfer), hội nhập tri thức (knowledge integration) và sáng tạo tri thức (knowledge creation). Nhìn chung, mục đích của nghiên cứu này nhằm hướng tới việc khai thác ý nghĩa nhân tố chia sẻ tri thức cũng như yếu tố tác động tới việc chia sẻ tri thức.3 Chia sẻ tri thức 2.1 Khái niệm chia sẻ tri thức Chia sẻ tri thức được định nghĩa là sự trao đổi tri thức (kỹ năng, kinh nghiệm và sự hiểu biết) giữa các cá nhân trong tổ chức. Theo Anne S Tsui, Zhi-Xue Zhang, Hui Wang and Renchen Xin (2006) cho rằng chia sẻ tri thức có thể giúp nhân viên chia sẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm để giúp những dự án, kế hoạch hoàn thành một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, chia sẻ tri thức liên quan đến từng cá nhân trong việc chia sẻ với tổ chức thông tin, ý tưởng, đề xuất và sự thành thạo đến những người khác.
Theo Maponya (2004) chỉ ra rằng chia sẻ tri thức dựa trên kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong và ngoài tổ chức. Nếu tri thức có sẵn trong các thành viên, tổ chức sẽ giảm thiểu tối đa các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề sẽ nhanh hơn. Các hoạt động chia sẻ tri thức hiệu quả sẽ giúp tái sử dụng tri thức của từng cá nhân và nâng cao tri thức lên một tấm cao mới. Theo Anne S Tsui, Zhi-Xue Zhang, Hui Wang and Renchen Xin (2006) đưa ra định nghĩa liên quan tới việc chia sẻ tri thức bao gồm: - Việc chia sẻ tri thức là quá trình đóng góp vào nguồn dữ liệu mang tính chung; - Quá trình chia sẻ tri thức diễn ra trực tiếp và không trực tiếp đối với những người làm việc trong hoặc ngoài nhóm; - Thực hiện việc chia sẻ tri thức diễn ra tại các hoạt động mang tính cộng đồng.
8 Chia sẻ tri thức cũng giống như tri thức, đều có thể thấy hoặc không thấy được. Công tác chia sẻ tri thức có thể nhận thấy dựa trên việc giao tiếp thông qua lời nói, tài liệu được sử dụng trong việc chia sẻ tri thức sẽ không thể thấy được, thường diễn ra tại các hoạt động mang tính xã hội, cách nhìn nhận hoặc việc tư vấn. Khái niệm về chia sẻ tri thức có thể hiểu đơn giản như một hành động mang tính chủ quan hay cố tình, từ đó giúp cho tri thức cản bản thân được tái sử dụng lại thông qua những người xung quanh, điều này dựa trên quá trình chuyển giao tri thức; thực chất là việc cho và nhận tri thức, bên cạnh đó yếu tố đổi mới và mong muốn được chia sẻ tri thức hoàn toàn xuất phát từ sự cố gắng của cá nhân, giúp cho tri thức luôn được chia sẻ.2 Tầm quan trọng của chia sẻ tri thức Nhìn chung, vai trò của việc chia sẻ tri thức là giúp tạo ra được sự liên kết giữa một cá nhân với một tổ chức, điều này thực hiện được dựa trên quá trình chuyển đổi tri thức từ cấp độ một cá nhân thành cấp độ một đơn vị hay tổ chức khác. Chính nhờ điều này mà tri thức mới chuyển thành giá trị mang tính kinh tế cũng như ưu thế trong quá trình cạnh tranh.
(1990), họ đưa ra quan điểm là khi diễn ra quá trình trao đổi tri thức giữa những cá nhân có kinh nghiệm và năng lực tốt sẽ tạo ra được sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng lực phát triển đối với tổ chức, nó vượt quá khả năng của một cá nhân có thể làm được.