Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu cũng như mục tiêu mà nghiên cứu cần và đạt được. Bên cạnh đó, chương này cũng nêu lên được đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu, tổng quan về tình hình nghiên cứu, kết cấu của luận văn. Các cơ sở lý thuyết, một số nghiên cứu trước đây và mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương 2. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết: giới thiệu về các khái niệm, tổng quan các nghiên cứu trước đây, lý thuyết liên quan đến hành vi chia sẻ kiến thức với đồng nghiệp, đặc điểm công việc của nhân viên ngân hàng, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.1 Khái niệm tri thức Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về tri thức, xong có một vài khái niệm sau được chấp nhận phổ biến: Theo Davenport và Prusak (1998) thì tri thức là mức độ cao hơn của thông tin, thông tin được xem như nguyên liệu thô chưa qua xử lý, sau đó thông tin được chuyển đổi để trở nên có giá trị hơn, tức tri thức là kết quả của việc giải quyết các vấn đề, kinh nghiệm ra quyết định.
Tri thức là một tập hợp những thông tin, kinh nghiệm, cái nhìn của chuyên gia, sự hiểu biết, mà có thể giúp đánh giá, thu nhận thêm những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức bắt nguồn từ bộ não con người và được con người ứng dụng để tư duy. Trong tổ chức, tri thức không chỉ bao hàm các văn bản tài liệu, mà còn trong các thủ tục, quy trình, thông lệ và nguyên tắc của tổ chức đó. Tri thức không thuộc sở hữu của cá nhân nào, tri thức được ghi nhớ vào trí nhớ của từng nhân viên, từng đội nhóm, từng phòng ban, các đơn vị kinh doanh, nó cũng nằm trong hệ thống giao dịch, hoạt động kinh doanh, sự đổi mới trong hệ thống…vì thế tri thức hay thay đổi trong quy trình và thực tiễn hoạt động của tổ chức.
Theo Wang và cộng sự (2001), tri thức có được khi sử dụng những thông tin, dữ liệu khi kết hợp với tiềm năng của con người như kỹ năng, năng lực, ý tưởng, trực giác, động cơ. Theo Awad và E. Dan Ghaziri tri thức là sự hiểu biết của con người về một lĩnh vực chuyên ngành mà họ quan tâm, thu nhận được thông qua học tập, nghiên cứu, kinh nghiệm. 9 Theo Alavi và Leidner (2001), tri thức là thông tin trong tâm trí của mỗi người, nó là thông tin được cá nhân hóa (có thể mới hay không, độc đáo, chính xác, hữu ích) liên quan đến sự lập luận, cách giải thích và cách đánh giá của cá nhân đó.
Serban, Jing Luan (2002), có thể hiểu rõ về tri thức thông qua cách hình thành tri thức, tri thức được định nghĩa trong mối tương qua giữa dữ liệu và thông tin: Quyết định (Hoạch định và phán quyết) Tri thức (Thông tin được kết hợp với kinh nghiệm và sự phán quyết) Hiểu biết các dạng mẫu và quy luật Thông tin (Dữ liệu đặt vào bối cảnh) Hiểu biết các mối quan hệ Dữ liệu (Sự kiện và số liệu) Hình 2.1: Từ dữ liệu thành tri thức (Nguồn: Andreea M. Serban và Jing Luan, 2002) Dữ liệu là một tập hợp các sự kiện, những con số, được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gắn với bối cảnh tức thông tin ở dạng thô, chưa được định dạng. Theo Kidwell, Vander Linde, và Johnson (2000) dữ liệu trở thành thông tin khi nó được phân loại, phân tích, tổng hợp và đặt vào một bối cảnh, dữ liệu gắn với một sự liên hệ hoặc một mục đích cụ thể và trở nên có thể nhận thức được đối với người nhận, tức dữ liệu được chuyển thành một dạng có ý nghĩa. Tri thức có thể được xem như thông tin mà nó đạt tới sự sáng tỏ, tức thông tin biến thành tri thức khi nó được sử dụng để so sánh, kết nối, thiết lập những liên hệ và được bàn luận, 10 đánh giá kết hợp với kinh nghiệm, sự phán quyết, tạo ra những cơ sở đáng tin cho hành động.
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Tri thức hay kiến thức (tiếng Anh: knowledge) bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục. Trong tiếng Việt, cả "tri" lẫn "thức" đều có nghĩa là biết. Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành. Từ những khái niệm trên, ta có thể thấy được tri thức thật sự có vai trò quan trọng đối với những hành động của con người, nó là mức độ cao, sáng tỏ hơn của thông tin khi thông tin được cá nhân hóa, xử lý kết hợp với kinh nghiệm, sự phán quyết, dẫn đến tri thức thường thay đổi trong thực tiễn.2 Phân loại tri thức Theo Prat (2006), có nhiều cách phân loại loại tri thức, nhưng có thể phân biệt tri thức thành hai loại chính phổ biến nhất được nhiều tác giả Nonaka và Takeuchi (1995), Prat (2006), Davenport và Prusak (1998), Pan và Scarborough (1999) đề cập đến là tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng.
Tri thức hiện hữu là các tri thức được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, hoặc các báo cáo, thủ tục được hệ thống hóa. Scarborough (1999) cho rằng tri thức hiện hữu dễ dàng truyền tải giữa các cá nhân. Tri thức ẩn tàng là những tri thức không hệ thống hóa được hoặc rất khó được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, các tri thức này là thuộc sở hữu cá nhân, được tạo ra thông qua học tập cách thức làm việc, nó gắn liền với bối cảnh và công việc cụ thể. Theo Sveiby (1997), tri thức ẩn tàng khó có thể thể hiện chính thức hay chia sẻ hơn tri thức hiện hữu.
Theo Nonaka và cộng sự (2000), tri thức ẩn tàng thường có nguồn gốc từ kinh nghiệm cá nhân, mang tính chủ quan. Tri thức ẩn tàng là rất khó 11 để hình thành các tài liệu, nhưng lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người.1: Sự phân biệt giữa tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng Tri thức hiện hữu Tri thức ẩn tàng (Hồ sơ hóa) (Bí quyết, kinh nghiệm gắn với con người) Dễ dàng được hệ thống hóa Mang tính cá nhân Có thể lưu trữ được Mang tính bối cảnh cụ thể Có thể chuyển giao, truyền đạt Khó khăn trong việc chính thức Các đặc tính hóa Diễn đạt và chia sẻ dễ dàng Khó tiếp nhận, chia sẻ, truyền đạt hơn Các tài liệu chỉ dẫn hoạt động Các quá trình kinh doanh và truyền đạt phi chính thức Nguồn Các chính sách thủ tục Các kinh nghiệm cá nhân Các báo cáo và cơ sở dữ liệu Sự hiểu biết mang tính lịch sử. Serban và Jing Luan, 2002) 2.3 Khái niệm chia sẻ tri thức Theo Lee và Al-Hawamdeh (2002), chia sẻ tri thức được định nghĩa là một hành động chủ quan cố ý làm cho tri thức được tái sử dụng bởi những người khác thông qua chuyển giao tri thức. Theo Nonaka và Tekeuchi (1995), chia sẻ tri thức là quá trình cho và nhận tri thức, trong đó sự sáng tạo và chia sẻ tri thức phụ thuộc vào nỗ lực có ý thức của cá nhân làm cho tri thức được chia sẻ.
Theo Hogel và cộng sự (2003), chia sẻ tri thức là tương tác xã hội liên quan đến sự trao đổi tri thức như những kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng, những hiểu biết chung, cung cấp những thông tin trong một tổ chức. 12 Dumoulin (2003) cho rằng, chia sẻ tri thức là quá trình trao đổi những tri thức cá nhân (tri thức hiện hữu, tri thức ẩn tàng) tạo ra tri thức mới trong tổ chức. Như vậy, có thể hiểu chia sẻ tri thức là quá trình cho và nhận tri thức, tương tác xã hội liên quan đến sự trao đổi tri thức như kinh nghiệm liên quan đến chuyên môn, bí quyết, kỹ năng, những hiểu biết chung, các thông tin … làm cho tri thức có thể được tái sử dụng bởi những người khác.4 Các lý thuyết có liên quan đến hành vi chia sẻ tri thức. Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory) - Bandura (1989) Lý thuyết nhận thức xã hội được giới thiệu bởi Bandura (1989).
Theo đó, hành vi cá nhân như là cấu trúc năng động. Những quyết định, ý định của một cá nhân khi muốn thực hiện bất kỳ hành vi nào đều phụ thuộc vào sự kết hợp, tương tác lẫn nhau một cách liên tục của ba yếu tố: yếu tố cá nhân, hành vi và sự ảnh hưởng của môi trường. Yếu tố của cá nhân Ảnh hưởng Hành vi của môi trường Hình 2.2: Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội (Nguồn: Bandura, 1989) Các yếu tố cá nhân (mục tiêu, thái độ, tri thức và mối quan hệ xã hội của cá nhân) có thể xem xét kết hợp sự ảnh hưởng của môi trường trước khi quyết định hành vi chia sẻ tri thức. 13 Lý thuyết trao đổi xã hội (Social Exchange Theory) – Homans (1960), Blau (1964) Lý thuyết trao đổi xã hội đã được giới thiệu trong những năm 1960 bởi George Homans.
Homans đã tập trung vào tâm lý của các hành vi cụ thể của các cá nhân khi tương tác với nhau trong khi Blau đã tập trung các bài viết của ông trên lý thuyết trao đổi xã hội nhiều hơn ở khía cạnh kinh tế và tiện dụng, nhấn mạnh việc phân tích kinh tế kỹ thuật hơn. Theo lý thuyết trao đổi xã hội thì thường có một sự trao đổi ngầm trong mọi mối quan hệ giữa con người. Nguyên lý trung tâm của lý thuyết này là con người đưa ra các quyết định mang tính xã hội dựa trên chi phí cảm nhận và nhận thức lợi ích, với giả định là con người sẽ đánh giá được tất cả các mối quan hệ xã hội để xác định lợi ích mà họ có thể đạt được trong mối quan hệ đó, tức cá nhân phải cân nhắc thiệt hơn để theo đuổi mục đích cá nhân. Hành vi xã hội là kết quả của một quá trình trao đổi lợi ích giữa các cá nhân.
Chia sẻ tri thức là một trong những hành vi cá nhân, nên mỗi cá nhân sẽ chia sẻ tri thức khi họ cảm nhận được là lợi ích họ nhận được sẽ nhiều hơn chi phí cho nỗ lực của họ. Cabrera và cộng sự (2005) cho rằng mỗi cá nhân sẽ tích cực chia sẻ tri thức kỳ vọng có được một số lợi ích trong tương lai.