CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP TỐNG QUAN Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu hệ thống {Systematic Review) 1.1 Nguồn dữ liệu Tẩt cả các báo cáo nghiên cứu được xuất bản đến thời điểm 30/03/2016 trên hệ thống dữ liệu điện tử Pubmed. Pubmed là hệ thống tìm kiếm dữ liệu miễn phí của hệ thống thư viện Y khoa Hoa Kỳ, trong đó cho phép tìm kiểm tài liệu từ hơn 25 triệu tạp chí, trích dần khoa học, nghiên cứu y sinh học từ Medline, các tạp chí khoa học đời sống và sách điện tử. Pubmed kiểm soát chất lượng các bài báo xuất bản khoa học và chỉ những tạp chí đáp ứng các tiêu chuần khoa học mới được lập danh mục tham khảo [35]. - Những tài liệu tham khảo của phiên bản cũ của Index Medicus từ 1951 trở lại và trước đó.
- Những tài liệu tham khảo của các tạp chí được lập danh mục tham khảo trước đó cho Index Medicus và Medline như Science, BMJ và Annals of Surgery. - Các tài liệu gần đây được ghi chép cho một bài báo trước đó đã được lập danh mục tham khảo tại Medical Subject Headings (MeSH) và thêm vào MEDLINE. - Những tập sách với đầy đủ các bản full text và các tập con khác từ NLD. - Các trích dẫn từ Pubmed Central.2 Chiến lược tìm kiếm và lựa chọn nghiên cứu 1.1 Các thuật ngữ liên quan Trung tâm kiểm soát AIDS quốc gia thuộc Kenya đã đưa ra định nghĩa về hiến máu tình nguyện vào năm 2007 [37] và Tổ chức y tế Thế giới cũng đã đồng thuận và công bố các kết quả về hiển máu và các thuật ngữ liên quan [38].
Theo đó, 5 người hiến máu được chia làm 3 loại theo mục đích của hiến máu (1) Hiến máu trả tiền, hiến máu bát buộc, hiến máu tự thân; (2) Hiến máu thay thế/gia đình; (3) Hiển máu tình nguyện. 1) Hiến máu trả tiền, hiến máu bắt buộc, hiến máu tự thân - Hiến máu trả tiền là người tham gia hiến máu để đổi lấy tiền hoặc các hình thức thanh toán khác. - Hiến máu bắt buộc là người không sẵn sàng hiến máu của người đó nhưng bị ép buộc hiến máu bởi các chủ thể sờ hữu lao động của họ, luôn lo sợ rằng mình sẽ mất đi công việc và sự thăng tiến nếu không tham gia hiến máu. - Hiến máu tự thân là người hiến máu cho chính họ để dự trữ và phục hồi lượng máu trong cơ thê họ, điêu này cân thiêt trong suôt quá trình phâu thuật, bệnh nhân tự đóng vai trò là người hiển máu cho chính họ, giảm bớt sự hiến máu không cần thiết từ người khác.
2) Hiến máu thay thể/gia đình bao gồm 3 trường họp: - Người hiến máu theo yêu cầu của từ một gia đình hoặc cộng đồng của bệnh nhân cần được truyền máu. Hệ thống lưu trừ máu không trả tiền cho người hiến máu mà thay vào đó là gia đình bệnh nhân. - Người hiến máu theo yêu cầu từ gia đình hoặc cộng đồng của chính người đó, việc này mang tính cưỡng chế và/hoặc chi phí dựa trên thỏa hiệp về an toàn truyền máu. - Người hiến máu là người thân trong gia đình hoặc bạn bè của người bệnh tham gia hiến máu thay thế cho sự cần thiết cho chính người bệnh đó mà không tham gia đến bất kì chi phí và lợi ích từ các nguồn nào.
3) Người hiến máu tình nguyện (không nhận tiền - không lương); Người cho máu, huyết tương hoặc các phế phẩm khác từ máu một cách tự nguyện và không nhận tiền hay các vật phẩm khác có giá trị tương đương. Điều này đã bao gồm thời gian nghỉ lao động, các lý do khác để hiến máu và di chuyển đến địa điểm hiến máu. Các chi phí về vật lưu niệm nhỏ, giải khát, đi lại có giá trị tương đương 6 với hiến máu tình nguyện. Hiến máu tình nguyện được chỉ ra tương đương với hiến máu không trả tiền, không nhận lương (Voluntary = unpaid, non - remunerated) [21] Người hiến ntáu tình nguyện cũng được phân làm 3 nhóm: - Người hiến máu tình nguyện mới: là người hiến máu tình nguyện chưa có lần hiến máu nào trước thời điểm đăng kí - Người hiến máu tình nguyện không thường xuyên: là người hiến máu tình nguyện đã từng hiển máu nhưng đã ngừng hiến hoặc hiển máu không thường xuyên - Người hiến máu tình nguyện thường xuyên là người hiến máu tình nguyện đã từng hiến máu mà không có thời gian nghỉ ngơi giữa hai lần hiến máu.
Người hiển máu tình nguyện thường xuyên: là người hiến máu tình nguyện, có ít nhất 3 lần hiến máu trước đó, lần cuối cùng vào năm trước đó và tiếp tục hiển máu ít nhất mỗi năm 1 lần. Hiến máu nhắc lại: Hiện nay chưa có định nghĩa rõ ràng về hiển máu nhắc lại. Hiến máu nhắc lại trong các y văn, tài liệu được rà soát trong tổng quan này được nhấc đen qua các từ khóa "repeat blood donation” “return behavior donation”. Định nghĩa được sử dụng nhiều nhất với hiến máu nhắc lại là người “hiến máu thường xuyên, - Regular blood donation” với khoảng thời gian hiến máu trong vòng 6 tháng đến 1 năm kể từ lần hiển máu đầu tiên [25].
Trong tổng quan này, chúng tôi quy ước ràng “hiến máu nhắc lại là hành vi hiến máu được lặp lại sau khoảng thời gian 84 ngày trở lên kể từ ngày hiến máu đầu tiên” căn cứ theo thời gian tái tạo tế bào máu - hồng cầu trong cơ thể con người [33]. Định nghĩa này sẽ được dùng xuyên suốt trong báo cáo tổng quan này và là nền tảng xây dựng lý thuyết về dự định quay trở lại hiến máu trong tương lai. Dự định hiến máu nhắc lại: Xuât phát từ khái niệm “Dự định hành vi” (Behavior intention) là khả năng nhận thức của một người về xác xuất mình sẻ thực hiện một 7 hành vi [41], dự định hiến máu nhắc lại được định nghĩa là khá năng nhận thức của một người về xác xuất mình sẽ quay trở lại tham gia hiên máu nhắc lại. Nhiều nghiên cứu đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máu nhắc lại, coi đây là một chì báo dẫn tới hành vi hiến máu nhắc lại.2 Chiến lưọc tìm kiếm nghiên cửu Theo Tổ chức Y tế thế giới, truyền máu an toàn bao gồm 7 nội dung [39]: - Truyền máu (Blood tranfiistion) - Hiến máu (Blood donation) - Hiến máu tình nguyện/hiến máu tình nguyện không lương/ Hiên máu nhân đạo (voluntary blood donation; voluntary non - remunerated blood donation) - Hiến máu nhắc lại (repeat blood donation) Tỉ so dân so hiển máu (The numbers of blood units collected in worldwide) - Dự định hiến máu nhắc lại (intension repeat donation) - Máu an toàn (Blood safety) Dựa trên 7 nội dung này, chức năng tìm kiếm nâng cao của Pubmed đã được sử dụng để xây dựng cụm từ tìm kiểm sau: “blood AND intent* AND (repeat* OR return OR repeti*)”.
Tổng số 489 tài liệu đã được tìm thấy vào ngày 30/03/2016.3 Lụa chọn nghiên cứu đưa vào tong quan Nghiên cứu được lựa chọn đưa vào tổng quan dựa trên 4 bước sàng lọc dữ liệu phương pháp tổng quan PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic reviews and Meta-Analyses) Statement [32]: 1. Loại bỏ các bài báo trùng nhau 2. Sàng lọc dựa trên tên và tóm tắt của bài báo 3. Đọc toàn văn bài báo và đánh giá kết quả nghiên cứu theo độ mạnh bằng chứng 8 4.
Tổng hợp, đưa bài báo vào tổng quan Bước 1: Trích dẫn tài liệu tham khảo được tải trực tiếp ve EndNote XVII từ Pubmed. Các dữ liệu trùng nhau (một nghiên cứu nhưng lại xuất hiện đến hai lần) được phát hiện và loại bỏ. Mỗi một nghiên cứu được báo cáo ở đây đều đảm bảo chỉ tính một lần duy nhất. Bước 2: Đọc kỹ tên bài báo và tóm tắt bài báo để lựa chọn các bài báo có liên quan đên chủ đề hiến máu.
Trong nghiên cửu tổng quan này sẽ lựa chọn (1) tất cả các nghiên cửu định lượng và định tính hoặc kết hợp, (2) không có hạn chế về các kết quả nghiên cứu về yếu tổ ảnh hưởng đến hiến máu nhắc lại. Quá trình sàng lọc được tiến hành 2 lần; mỗi lần cách nhau 1 tuần; sau mỗi lần sàng lọc xong đều kiểm tra lại các nghiên cứu lựa chọn, nghiên cứu loại trừ để đảm bảo không bỏ sót bài báo nghiên cứu có liên quan. Các nghiên cứu nghi ngờ đều được đưa vào chuyển sang bước 3 đọc toàn văn. Buóc 3: Toàn văn tất cả các bài báo qua bước 2 đều được download về và quản lý trong phần mem Endnote XVII.
Với các nghiên cứu phải trả phí, tác giả liên hệ với nghiên cứu sinh đang theo học tại nước ngoài đe có thê tiêp cận toàn văn. Tại bước này, nghiên cứu được dánh giá và lựa chọn theo hướng dẫn về chất lượng của các nghiên cứu khoa học và độ tin cậy trong y học và y tế còng cộng, sử dụng thang đo độ mạnh bằng chứng (strength of evidence) [36]. Theo đó kết quả nghiên cứu được đánh giá theo 4 cấp độ của độ mạnh bàng chứng dựa vào thiết kế nghiên cứu (từ mức cao nhất đen thấp nhất) như sau: 9 - Cấp độ la: Các bài báo phân tích tổng hợp (meta - analysis) chất lượng cao hoặc các rà soát hệ thống (systematic review) từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled clinical trial - RCT) hoặc từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng cỏ nguy cơ sai lệch rat thấp. Trong đó đối tượng can thiệp được phàn bố thành từng nhóm và có so sánh giữa các nhóm khác nhau trong nghiên cứu, bao gồm cả đo lường kết quả đầu ra trước và sau khi thực hiện can thiệp.
- Cấp độ Ib: Các bằng chửng thu được từ ít nhất 1 thử nghiệm ngẫu nhiên có đổi chứng, các bài báo phân tích tốt về thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng hoặc các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng có nguy cơ sai lệch thấp. Cấp độ II: Bằng chửng thu được từ các nghiên cửu có đối chứng (không ngẫu nhiên) hoặc các bán thử nghiệm; các biển nhiễu có nguy cơ sai lệch thấp hoặc có quan hệ nhân quả trong bài. - Cấp độ III: Các nghiên cứu thu thập bàng chứng từ nghiên cứu giả thử nghiệm như nghiên cứu so sánh, nghiên cứu cắt ngang hoặc nghiên cứu trường họp - Cấp độ IV: Các bằng chứng thu được từ báo cáo, ý kiên và quan diêm chuyên gia hoặc các kinh nghiệm lâm sàng đã được công bo bởi 1 tác giả. Tất cả các bài báo thuộc nhóm cấp độ IV của độ mạnh bằng chửng, là bài bình luận, đề cương nghiên cửu, thảo luận bị loại bỏ.
Bưó’c 4: Đọc toàn bộ các bài báo đã lựa chọn, đưa vào tổng họp, phân tích, trích dẫn.