chương 1 của Luật Xây dựng 2014 giải thích từ ngữ: Thiết kế sơ bộ là thiết kế được lập trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, thể hiện những ý tưởng ban đầu về thiết kế xây dựng công trình, lựa chọn sơ bộ về dây chuyền công nghệ, thiết bị làm cơ sở xác định chủ trương đầu tư xây dựng công trình. Thiết kế cơ sở là thiết kế được lập trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng trên cơ sở phương án thiết kế được lựa chọn, thể hiện được các thông số kỹ thuật chủ yếu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, là căn cứ để triển khai các bước thiết kế tiếp theo. Thiết kế kỹ thuật là thiết kế cụ thể hóa thiết kế cơ sở sau khi dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt nhằm thể hiện đầy đủ các giải pháp, thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, là cơ sở để triển khai thiết kế bản vẽ thi công. Thiết kế bản vẽ thi công là thiết kế thể hiện đầy đủ các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, bảo đảm đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình Thiết kế hay gọi đầy đủ là đồ án thiết kế là một hệ thống các bản vẽ và các chỉ tiêu tính toán để thuyết minh cho sự hợp lý về mặt dây chuyền công nghệ, mặt kỹ thuật cũng như về mặt kinh tế xã hội của công trình được xây dựng, nhằm thực hiện 6 chủ trương đầu tư đề ra với hiệu quả và chất lượng tốt nhất, thoả mãn nhu cầu của con người về vật chất cũng như tinh thần.
Đồ án thiết kế xây dựng theo nghĩa hẹp là một hệ thống các bản vẽ được lập trên cơ sở tính toán có căn cứ khoa học cho việc xây dựng công trình như: các sơ đồ tính toán, công năng, các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật. Thiết kế xây dựng thuộc về giai đoạn thực hiện dự án đầu tư của công trình cần xây dựng, bao gồm một số công việc chủ yếu như: Lập, trình và duyệt các phương án thiết kế công trình; Tổ chức quản lý công tác thiết kế; Giám sát tác giả … Quá trình thiết kế bao gồm giai đoạn tiền thiết kế (lập dự án đầu tư, thiết kế tiền khả thi và thiết kế khả thi), giai đoạn thiết kế chính thức và giai đoạn sau thiết kế (giám sát tác giả, theo dõi thực hiện xây dựng trên công trường xây dựng để điều chỉnh và bổ sung thiết kế khi cần thiết). Luật pháp quy định mọi công trình trước khi xây dựng phải: + Có đồ án thiết kế; + Thiết kế phải do tổ chức hoặc cá nhân có giấy phép hành nghề lập, phải tuân theo quy định của Quy chuẩn xây dựng và Tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng; + Khi thiết kế công trình phải căn cứ vào tài liệu khảo sát xây dựng phù hợp với đối tượng và yêu cầu của các giai đoạn thiết kế. Bản thiết kế phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; + Tài liệu khảo sát phục vụ thiết kế phải do pháp nhân hành nghề khảo sát xây dựng cung cấp.
Pháp nhân hành nghề khảo sát xây dựng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số liệu, tài liệu do mình cung cấp. Theo điều 80, mục 2 của Luật Xây dựng 2014: Thiết kế xây dựng công trình bao gồm: Phương án công nghệ; Công năng sử dụng; Phương án kiến trúc; Tuổi thọ công trình; Phương án kết cấu, kỹ thuật; Phương án phòng chống cháy nổ; Phương án sử dụng năng lượng đạt hiệu suất cao; Giải pháp bảo vệ môi trường; Tổng dự toán, dự toán chi phí xây dựng phù hợp với từng bước thiết kế xây dựng. Khái niệm công tác thiết kế Công tác thiết kế thuộc về giai đoạn thực hiện dự án ban đầu của công trình cần xây dựng, bao gồm một số công việc chủ yếu như: Lập và duyệt các phương án thiết kế công trình. Tổ chức quản lý công tác thiết kế.
Quá trình thiết kế bao gồm: Giai đoạn tiền thiết kế (lập dự án đầu tư, thiết kế tiền khả thi và thiết kế khả thi); Giai đoạn thiết kế chính thức; Giai đoạn sau thiết kế (giám sát tác giả, theo dõi thực hiện xây dựng trên thực địa để điều chỉnh và bổ sung thiết kế) Ý nghĩa công tác thiết kế: Chất lượng công tác thiết kế có vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả của vốn đầu tư. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chất lượng thiết kế quyết định việc sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm, hợp lý, kinh tế. Nếu chất lượng của công tác thiết kế trong giai đoạn này không tốt dễ dẫn đến việc lãng phí vốn đầu tư, ảnh hưởng đến các giai đoạn thiết kế sau bởi các giai đoạn thiết kế sau đểu được phát triển trên cơ sở các thiết kế trước đó. Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, chất lượng công tác thiết kế có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình tốt hay không tốt, an toàn hay không an toàn, tiết kiệm hay lãng phí, điều kiện thi công thuận lợi hay khó khăn, tiến độ thi công nhanh hay chậm… Giai đoạn này công tác thiết kế được coi có vai trò quan trọng nhất trong các giai đoạn của quá trình đầu tư.
Trong giai đoạn khai thác dự án, chất lượng thiết kế có vai trò chủ yếu quyết định việc khai thác, sử dụng công trình an toàn, thuận lợi hay nguy hiểm khó khăn; chất lượng công trình tốt hay xấu; giá thành công trình cao hay thấp; tuổi thọ công trình có đảm bảo yêu cầu đề ra trone dự án không. Tóm lại, thiết kế xây dựng là khâu quan trọng hàng đầu trong hoạt động đầu tư xây dựng. Nó có vai trò chú yếu quyết định hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án đầu tư. Đồng thời thiết kế xây dựng góp phần tạo ra môi trường mới, một không gian thiên nhiên mới thoả mãn yêu cầu sán xuất, sinh hoạt và đời sống của con người cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THIẾT KẾ Theo(Tilley, Wyatt, & Mohamed, 1997), chất lượng công tác thiết kế là khả năng cung cấp cho các nhà thầu với tất cả các thông tin cần thiết để cho phép xây dựng được thực hiện theo yêu cầu, hiệu quả và không có trở ngại. Chất lượng công tác thiết kế được định nghĩa bởi (Abolnour, 1994)là "sự phù hợp với các yêu cầu đề ra". (Queensland, 2005)trình bày các đặc điểm chất lượng công tác thiết kế như sau: - Phù hợp với mục đích. - Rõ ràng và mạch lạc.
- Kịp thời, chính xác và đầy đủ. - Dễ dàng truyền đạt và thực hiện xây dựng, với giá trị kinh tế tốt nhất có thể và an toàn. - Phù hợp với yêu cầu của chủ sở hữu như quy định trong báo cáo sơ bộ dự án. Theo (ASCE, 2000), các phương pháp để đo lường chất lượng công tác thiết kế được trình bày như sau: - Đáp ứng các yêu cầu của chủ đầu tư như: hoàn thành đúng thời hạn và trong ngân sách; Chi phí cho chu kỳ sống và bảo trì.
- Đáp ứng các yêu cầu của thiết kế chuyên nghiệp như: phạm vi quy định, lịch trình hợp lý, công việc thú vị dành cho các nhân viên, chia sẻ rủi ro, lợi nhuận hợp lý, khách hàng hài lòng và hoàn thành dự án mà kết quả công nhận tích cực. - Đáp ứng các yêu cầu của các nhà thầu như: xác định rõ các kế hoạch, thông số kỹ thuật, một lịch trình hợp lý, quyết định kịp thời của các khách hàng và thiết kế, chia sẻ rủi ro thực tế, lợi nhuận hợp lý, chủ sở hữu hài lòng. - Đáp ứng các yêu cầu của cơ quan quản lý như: sức khỏe và an toàn công cộng, đảm bảo môi trường chung, bảo vệ tài sản công cộng, và phù hợp với pháp luật, quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn, và các chính sách quy định. Luật xây dựng 2014đã quy định việc thẩm tra thiết kế của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đối với các công trình được quy định.
Mục đích việc thẩm tra 9 thiết kế là nhằm bảo đảm an toàn cho cộng đồng đối với các công trình được đầu tư bằng mọi nguồn vốn và phát hiện những sai sót, lãng phí và thất thoát lớn đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Sự phù hợp của thiết kế kỹ thuật với thiết kế cơ sở; sự hợp lý của các giải pháp kết cấu công trình; sự tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; đánh giá mức độ an toàn công trình; sự hợp lý của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ; sự tuân thủ các quy định về môi trường, phòng cháy, chữa cháy và các yêu cầu khác. Có nhiều quy chuẩn và phương pháp để đo lường chất lượng công tác thiết kế. Tuy nhiên qua thực tiễn và các ý kiến chuyên gia cho rằng việc sử dụng phương pháp của(ASCE, 2000)đáp ứng hay đáp ứng chưa đầy đủ (yêu cầu chủ đầu tư, yêu cầu thiết kế, yêu cầu của nhà thầu và yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước) để xây dựng thang đo cho chất lượng công tác thiết kế là hiệu quả và có độ chính xác tốt trong ngành xây dựng.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THIẾU CHẤT LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC THIẾT KẾ Theo nghiên cứu của (Queensland, 2005)đã tổng kết các tếu tố dẫn đếncông tác thiết kế thiếu chất lượng là: - Tóm tắt dự án kém dựa trên những kỳ vọng không thực tế. - Thiếu phối hợp với nhà cung cấp dịch vụ và giữacác giai đoạn của dự án. - Giảm sút giá trị của đạo đức nghề nghiệp và tiêu chuẩn trong thiết kế. - Cung cấp dịch vụ lựa chọn trên cơ sở dự thầu thấp nhất, chứ không phải là "Value for Money".
- Đánh giá và quản lý rủi ro kém và thiếu kiến thức kỹ năng về quản lý rủi ro. - Sự vắng mặt thường xuyên của chủ trì thiết kế. - Hiểu biết kém các yêu cầu tối ưu hóa thiết kế và cung cấp chất lượng tài liệu hướng dẫn. - Chưa đầy đủ của những người có tay nghề cao và giàu kinh nghiệm.
10 - Thiếu hay sử dụng không hiệu quả các công nghệ (ví dụ như ứng dụng kém các phần mềm thiết kế kỹ thuật; thông số kỹ thuật được rút ra từ cơ sở dữ liệu không phù hợp với dự án). - Giao tiếp kém của các bên liên quan.