Chương 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Sau giải phóng, hàng loạt trường sư phạm ở tinh thành được “hdi sinh” hoặc mở rộng, để đáp ứng yêu cẩu phát triển giáo dục, và môn Tâm lý học một mỗn học được đưa ngay vào nội dung dao tao. Những trở ngại từ những đầu giải phóng cho đến hôm nay đã được các nhà nghiên cứu, giảng viên giảng day tim các biện pháp giải quyết. Một trong những cách giải quyết đó là tổ chức các cuộc hội thảo, trưng cẩu ý kiến của các thay cô trực tiếp giảng day bộ môn. Theo sự hiểu biết của người viết, cho đến nay, chưa có để tài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy-học môn Tam lý học một cách chính thức với những nghiên cứu định lượng, nhưng dưới dạng bài viết của hội thảo hoặc những bài báo liên quan đến vấn để này thì có rất nhiều như : - _ Dưới dạng bài viết trình bày trong các tạp chí có liên quan đến để tài có các bài như : “Về đổi mới môn Tâm lý học ở trường sư phạm” [56], tác giả trình bay các lý do để cẩn thiết phải đổi mới môn Tâm lý học ở trường sư phạm, trong đó tác giả nhấn mạnh đến tính ứng dụng của bộ môn Tâm lý học trong các trường sư phạm, các lý do đó là : nội dung môn học còn thiên về lý thuyết chưa giúp cho người học có kỹ năng thực hành, ứng dụng được, chương trình học còn dàn trai, quy chế đánh giá, thi cử hiện chưa chú ý đúng mức về yêu cầu kỹ năng vận dụng lý thuyết tâm lý học của sinh viên sư phạm, sự nhận thức tầm quan trọng bộ môn Tâm lý học của sinh viên sư phạm chưa đúng, cuối cùng là những phương tiện liên quan đến việc dạy và học bộ môn đặc biệt là dụng cụ thí nghiệm tâm lý.
Một tác giả khác đặt ra câu hỏi : “Giảng dạy Tâm lý học như thế nào cho "trúng tâm lý” người học ?” [17,46]. Và tác giả này cũng đưa ra các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng dạy học môn Tâm lý học, đó là : nguyên nhân trước hết do quan niệm xem môn Tâm lý học gần như một bộ môn của triết học Marx - Lênin, còn quá nhẹ vé mặt khoa học thực nghiệm, nhưng lại nặng vé mặt khoa học hệ tư tưởng. Từ nguyên nhân trên, tác giả đưa ý kiến là việc viết giáo trình cấu tạo theo một đường thẳng và kéo theo các phạm trù khái niệm mà giáo viên xem là “trong dai” #% như người học chỉ gặp lại một lần không có dịp trở lại. Cho nên ngay từ đầu sinh viên không còn cách nào khác buộc phải học thuộc lòng, “chấp nhận thái độ học tập thụ động, giáo diéu” [17,47].
Một tác giả khác có ý kiến rõ rằng hơn “đổi mới dạy và học môn Tâm lý học ở các trường đại học sư phạm” [25,12]. Tác giả đặt ra câu hỏi rất xác đáng qua thực tế của các trường sư phạm đã được học bộ môn Tâm lý học trong nhiều năm. “Day Tâm lý học để làm gi?”, “Dạy cái gì?” “Dạy và học như thế nào?”. Qua những câu hỏi này, ông đã xác định hướng đúng cho việc dạy và học môn Tâm lý học bằng các giải đáp cho các câu hỏi trên.
Tác giả trên cũng khẳng định : "có thể lời giải đáp đúng lúc này, nhưng khi điểu kiện xã hội thay đổi, yêu cầu cuộc sống đổi thay thì lời giải ấy không còn thích hợp”. Và lời giải cho các câu hỏi trên ông đưa ra như sau : “Dạy tâm lý học là để giúp cho giáo viên gây được cái thân tình giữa thầy và trò. Tình nghĩa giữa thầy và trò không thể được thiết lập bằng khẩu hiệu “tất cả vì học sinh thân yêu”, mà có thể thiết lập bằng 10 một thái độ khoa học. Nhưng muốn có thái độ đó, cách làm đó phải có tâm lý học.
Tâm lý học không dừng lại ở cái học (kiến thức, quy luật, luận điểm.) mà phải có cả “cái thuật” (cách làm) của tâm lý học. Nói cách khác đó là thuật tiếp cận tâm lý học sinh. Nhờ “cdi học” và “cái thuật” này làm nảy nở và phát triển tình cảm thay trò của quá trình day và học. Tình cảm này cực kỳ quan trọng.
Nó là động lực cốt yếu cho mọi sự tiến bộ, ham thích, yêu ghét, hờn giận, vui mừng hoặc sợ hãi, là những năng lượng thôi thúc hoặc ngăn trở sự trưởng thành của người học. Tác giả cũng đưa ra các nguyên nhân vé điểu kiện day học môn Tâm lý học, nhưng ông cho rằng nguyên nhân trong bản thân của hoạt động dạy và hoạt động học là quan trọng hơn cả. Hay nói một cách cụ thể đó là nguyên nhân từ phía người day và người học là nguyên nhân cơ bản nhất. Trong hội thảo khoa học vé “Đổi mới phương pháp giảng dạy Tâm lý học và Giáo dục học trong các trường sư phạm tại Thanh phố Hồổ Chí Minh năm 1995", có rất nhiều tác giả là những nhà nghiên cứu và những người đang giảng dạy Tâm lý học và Giáo dục học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm, trường quản lý cán bộ từ Huế trở vào Nam.
Tại đây các tác giả trình bày thực trạng của hoạt động giảng dạy của trường mình đang công tác, từ đó đưa ra sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy đúng như chủ để của hội thảo. Nhìn chung các nguyên nhân trực tiếp có ảnh hưởng đến hiệu quả đó là phía cơ quan chỉ đạo chưa có những văn bản pháp quy nhầm chấn chỉnh việc day và khích lệ tính ứng dụng. Những nguyên nhân kéo theo đó là nội dung chương trình, sách giáo khoa chậm cải tiến, không cập nhật và không ứng dụng được, phương tiện, thiết bị còn quá sơ sài, thiếu thốn. Bên cạnh đó là đội ngũ giáo viên ở một số ll trường thiếu trầm trọng, “phải liên tục ghép lớp hoặc nhờ đến thay không chuyên môn giảng dạy, kể cả thay cô chuyên môn lại non về nghiệp vụ” |13.
Và các nguyên nhân về phía người học được các tác giả trình bày một phần do “đầu vào còn non yếu về chất lượng (một số nơi), một phần do yếu tố tâm lý chán học bộ môn ở người hoc” { 13,28],. - Còn tại hội thảo khoa học của khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Thanh phố Hé Chí Minh về vấn để “Đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường Đại học Sư phạm Thanh phố Hồ Chí Minh”, các tác giả cung cấp một cách khá chi tiết các nguyên nhân vi sao cẩn phải đổi mới phương pháp giảng dạy. Có thể kể đến một số nguyên nhân như sau : + Nguyên nhân về giáo trình Tâm lý học mới nhất đang giảng day cho các trường đại học và cao đẳng sư phạm trong cả nước nặng về lý thuyết, chưa có tính ứng dụng cao, giáo trình viết quá vắn tắt, vì thế kéo theo giáo viên phải chọn phương pháp dién giảng để giúp học sinh hiểu được hệ thống các tri thức lý luận trừu tượng ấy. + Hệ thống câu hỏi ôn thi chưa hợp lý.
+ Sinh viên chưa quen với cách học ở đại học. + Quan niệm của sinh viên đây là môn chung nên chỉ học cho có điểm, lười học, lười đọc sách, thậm chí lười đến lớp. [14,20] Qua các bài viết tại hội thảo khoa học và các bài viết đăng trên các tạp chí, các tác giả phẩn nào đã nêu ra được thực trạng cẩn thiết phải nâng cao chất lượng dạy - học môn Tâm lý học, nhưng những nguyên nhân đó chưa thật sự thuyết phục bằng những số liệu cụ thể mà chỉ mới dừng lại ở sự quan sát, đánh giá và kiến nghị. Nhưng chúng ta không thể bỏ qua được những ý kiến thật là xác đáng bằng người thật việc thật đã, đang diễn ra trong những năm gần đây.
Và những ý kiến đó ít nhiều cũng đã đóng góp cho việc cải tiến, xãy dựng khoa học tâm lý ngày phát triển hơn, mang tính thực tế, ứng dụng hơn trong giai đoạn nước ta đang chuyển mình đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một số khái niệm liên quan đến để tài : 2.1 Yếu tố : Khái niệm yếu t6 được các tác giả định nghĩa khác nhau. Có một số cách hiểu như sau : - _ Yếu có nghĩa là quan trọng, tố được hiểu là nguyên chất. Yếu tố là điều kiện quan hệ tạo nên một sự vật [32,1567] - Yếu tế là bộ phận cấu thành một sự vật, sự việc hiện tượng [52,927] [46,1406] - _ Yếu tố là nguyên tố, thành phan cốt yếu cấu thành vật gì (như yếu tế tâm lý) (34,1351) - Yếu tố được xem là một trong những bộ phận có quan hệ phối hợp với nhau thành một toàn thể [12,958] Trên day là một số định nghĩa về yếu tố của các tác giả khác nhau được trình bay trong một số từ điển tiếng Việt, nhưng những cách hiểu vé khái niệm yếu tố được trình bay ở trên cũng cho chúng ta thấy những điểm chung : yếu tế là một trong những bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng hay một sự việc, bộ phận cấu thành đó có mối quan hệ phối hợp với nhau tạo thành một sự vật, sự việc, hiện tượng.
Với dé tài nghiên cứu này, tác giả chọn khái niệm "yếu tố là một trong những bộ nhận có quan hệ phối hợp với nhau Ho thành một toàn thé” [12,958] lạ 2.2 Chất lượng : Giống như khái niệm yếu tố, khái niệm chất lượng cũng được các tắc giả định nghĩa, giải thích khác nhau tùy theo góc độ nghiên cứu, quan sát của họ. - Chất lượng bằng giá trị vé mặt lợi ích, nó khác với số lượng. Ví dụ như bài giảng có chất lượng [34,256] - Chat lượng được xem là cái tạo nên giá trị, phẩm chất của con người, sự vat [52,106] - Chat lượng được xem là giá trị vé mặt lợi ích, phục vụ đời sống như : trong công tác giáo dục phải chú ý đến chất lượng [32,296] - (Chat lượng là sự thoả mãn nhu cẩu thị trường với chi phí thấp nhất [2,22] - Chat lượng là mức độ hoàn thiện là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù các dữ kiện, thông số cơ bản [2,22] Với các nhà kinh tế thì quan niệm về chất lượng như là sự sống còn đối với họ "ngày nay chất lượng được xem như là phương tiện cơ bản để tổn tại, đặc biệt đối với những doanh nghiệp canh tranh trên thị trường thế giới [28,51], chất lượng không chỉ liên quan đến sản phẩm mà liên quan đến toàn bộ doanh nghiện.