CHƯƠNG 1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 1. Ý thức pháp luật: quan niệm và kết cấu 1. Một số quan niệm về ý thức pháp luật Quan niệm về ý thức pháp luật có nhiều điểm khác nhau, khi nó được nghiên cứu dưới những góc độ, những cách tiếp cận khác nhau của những ngành khoa học khác nhau, như triết học, luật học hay xã hội học pháp luật.
Từ góc độ triết học, ý thức pháp luật được hiểu là một trong những hình thái của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức xã hội). Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời từ thực tiễn đời sống xã hội và phản ánh tồn tại xã hội. Ý thức xã hội xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế - xã hội, mà trước hết, là những quan hệ sản xuất được thể hiện trong các luật lệ nhà nước. Ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật, nó là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các hệ tư tưởng, quan điểm, quan niệm trong xã hội.“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp lý tồn tại trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, đối với quá trình điều chỉnh pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử sự của cá nhân, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội”[2, tr.
Quan niệm này đã làm rõ được chủ thể ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết đối với pháp luật và thái độ, sự đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người theo pháp luật. 8 Ý thức pháp luật là bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp. Theo đó, ý thức pháp luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định và bị chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế. Vì thế, những nội dung của ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật thể hiện ra.
Với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện, nảy sinh trên nền tảng tồn tại xã hội nhất định. Vì thế, tồn tại xã hội và ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau. Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp. Do đó, những nội dung của ý thức pháp luật và các quy định của pháp luật, xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật được thể hiện bằng các hành vi cụ thể.Mác đã khẳng định: “Nhà lập pháp phải coi mình như nhà khoa học tự nhiên.
Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức. Chúng ta sẽ phải chê trách nhà lập pháp và vô cùng tùy tiện, nếu như ông ta thay thế bản chất của sự việc bằng những điều bịa đặt của mình”[Dẫn theo: 6; tr. Mọi sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức pháp luật đều có căn nguyên từ những thay đổi, vận động và phát triển của đời sống xã hội. Bởi lẽ, trong mối quan hệ với tồn tại xã hội, ý thức pháp luật là cái bị quy định.
Và, mặc dù là 9 cái ổn định hơn so với sự biến động của đời sống xã hội, nhưng cuối cùng dù sớm hay muộn, ý thức pháp luật cũng phải thay đổi theo sự biến đổi của xã hội.Mác nói: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các cuộc cải cách xã hội tách biệt với pháp luật. Một khi pháp luật bị đặt ra ngoài các quá trình biến đổi xã hội, hoặc bị hạ thấp hay phớt lờ thì tất yếu các cải cách ấy hoặc là mang tính nữa vời, thậm chí chết yểu, hoặc là gây nên những đảo lộn nghiêm trọng đối với đời sống xã hội, xô đẩy xã hội vào những nguy cơ khủng hoảng” [8; tr. Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý thức chấp hành những quy định pháp luật của con người. Vì thế khi đánh giá ý thức pháp luật của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa hành vi chấp hành của những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay kém của họ.
Quan niệm này đồng nhất ý thức pháp luật với một hình thức biểu hiện cụ thể của nó, như vậy sẽ quá hẹp, thiếu toàn diện, chưa thể hiện rõ được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp luật. Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng. Tuy nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật. Quan niệm thứ nhất cho rằng: "ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [9, tr.
Đây là quan niệm mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chưa phản ánh kết cấu nội dung của ý thức pháp luật. Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý thức pháp luật. Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật như "ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật. Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành 10 nghiêm chỉnh pháp luật" [54, tr.
Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật như: Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội [10, tr. Quan niệm thứ ba: Đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Nó không những chỉ ra được tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật mà còn đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội. Theo quan niệm này: Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, và hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức [43, tr.
Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến nêu trên, cùng với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi quan niệm: Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ 11 của các chủ thể pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội. Quan niệm trên đã chỉ rõ nguồn gốc trực tiếp của ý thức pháp luật là đời sống pháp luật, đồng thời cũng nêu lên tính chất, cơ cấu và nội dung. của ý thức pháp luật, qua đó thấy được vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội, để có thái độ xử sự đúng đắn như nó đang tồn tại. Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung của sự hình thành ý thức xã hội phản ánh đời sống pháp luật, mà trước hết là nhu cầu pháp lý đặt ra của đời sống xã hội, thông qua chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền.
Ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, và ý thức đạo đức. Ý thức chính trị phản ánh mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong xã hội đối với quyền lực nhà nước. Còn ý thức pháp luật phản ánh mối quan hệ của còn người đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định.