Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÚC TIẾN DU LỊCH VQG CHO THỊ TRƢỜNG INBOUND 1. Xúc tiến du lịch Xúc tiến du lịch bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh: “Tourism promotion” và cũng được nhiều người hiểu là tuyên truyền, quảng bá hay chiêu thị du lịch. Theo Luật du lịch Việt Nam, thì thuật ngữ xúc tiến du lịch có nội hàm rất rộng ở tầm vĩ mô, bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: - Thứ nhất, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân trong cả nước và bạn bè quốc tế hiểu biết về du lịch Việt Nam.
- Thứ hai, giáo dục để nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn để đầu tư và phát triển du lịch. - Thứ ba, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. - Thứ tư, phát triển các tuyến du lịch, điểm du lịch, khu du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch đa dạng độc đáo, có chất lượng cao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, của từng vùng địa phương có sức mạnh với các sản phẩm du lịch của các nước trong khu vực và trên thị trường du lịch quốc tế. Đây là bốn vấn đề lớn, để thực hiện hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và cư dân địa phương.
Từ những nội dung trong khái niệm xúc tiến các nhà nghiên cứu du lịch cũng đưa ra những khái niệm về xúc tiến điểm đến du lịch. Etienns và Binns (2002) định nghĩa khái niệm xúc tiến điểm đến là việc xây dựng và thực hiện một chiến lược liên quan đến việc định vị lại hình ảnh và tái cấu trúc lại kinh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế của một điểm đến hoặc một địa phương cụ thể. Còn theo quan điểm của Gold và Ward (1994) thì Xúc tiến điểm đến liên quan ít nhất đến ba khía cạnh: hình thành và thể hiện hình ảnh của điểm đến; chính sách công; các hoạt động marketing. Trong tập bài giảng Xúc tiến du lịch của Thạc sĩ Nguyễn Thu Thủy Khoa Du lịch học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn có đưa ra quan điểm: “Xúc tiến điểm đến (Destination Promotion) là việc xây dựng một chương trình xúc tiến hỗn hợp có sự kết hợp của nhiều công cụ xúc tiến khác nhau nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý trên diện rộng của đông đảo du khách đến điểm du lịch” [20, tr.
Trên thực tế, điều kiện về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận của mối điểm đến du lịch là khác nhau. Nhưng xét trên phạm vi về khả năng cung ứng, đáp ứng nhu cầu của du khách thì mỗi một điểm đến lại có những lợi thế nhất định. Vì vậy mỗi điểm đến để có thể thu hút được du khách về với mình thì một chiến lược xúc tiến du lịch thường được xây dựng dựa vào những điểm nổi trội của điểm đến để có thể quảng bá đối với du khách. Như vậy, xúc tiến du lịch hay xúc tiến điểm đến du lịch không phải là một hoạt động mang tính nội bộ riêng lẻ, mà là sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành nên sản phẩm điểm đến du lịch vì mục tiêu chung đã đặt ra.
Và các hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch chính là một hệ thống các quyết định liên quan đến mục tiêu, người nhận tin, ngân sách xúc tiến nhằm phát triển và duy trì hiệu quả một hỗn hợp công cụ truyền thông trên cơ sở nguồn lực của các tổ chức, để thu hút một cách cạnh tranh các khách hàng hiện tại và tiềm năng tới điểm đến, đạt được các mục tiêu xúc tiến và các mục tiêu chung của tổ chức. Trong phạm vi của luận văn này, khái niệm xúc tiến du lịch được nghiên cứu trong phạm vi xúc tiến bán sản phẩm du lịch đến thị trường khách nước ngoài đến Việt Nam. Như vậy, mục tiêu của luận văn là làm rõ hoạt 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động xúc tiến bán sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch dựa vào tự nhiên tại VQG Xuân Thủy. Khách du lịch, khách du lịch inbound Để hiểu khái niệm khách du lịch inbound, trước tiên ta đến với với niệm: Khách du lịch.
Việc xác định ai là du khách có nhiều quan điểm khác nhau. Ở đây cần phân biệt giữa khách du lịch, khách thăm quan và lữ khách dựa vào tiêu thức: Mục đích, thời gian, không gian chuyến đi. Theo nhà kinh tế học người Anh: Khách du lịch là “tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian dưới 1 năm và chi tiêu tiền bạc mà nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó”. Nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và thay đổi thu nhận từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên”.
Năm 1937 Ủy ban thống kê của liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về khách quốc tế như sau: “Du khách quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24h”. Tại điều 34, Chương 5 trong Luật Du lịch số 44/2005/QH11 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 quy định về khách du lịch như sau: 1. Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Nếu lấy Việt Nam làm trục thì có thể hiểu khái niệm khách inbound như sau: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khách Inbound: Người nước ngoài hoặc người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài vào VN đi du lịch. Như vậy, theo định nghĩa trên, khái niệm khách inbound trong phạm vi luận văn này được hiểu là “những khách du lịch là người nước ngoài hoặc người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài vào Việt Nam du lịch và cụ thể là đến với VQG Xuân Thủy”. Thị trường du lịch, thị trường inbound Khái niệm thị trường du lich tiếp cận theo kinh tế chính trị học là: Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán giữa cung và cầu và toàn bộ các thông tin kinh tế kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch.
Với góc độ kinh tế: Thị trường du lịch là phạm trù cơ bản của kinh doanh sản phẩm hàng hóa du lịch, nó là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế của cả du khách và người kinh doanh phát sinh trong quá trình trao đổi. Theo nghĩa hẹp: “Thị trường du lịch chỉ là thị trường nguồn khách du lịch, tức là vào một thời gian nhất định, thời điểm nhất định tồn tại người mua hiện thực và người mua tiềm năng có khả năng mua sản phẩm hàng hóa du lịch”. Theo nghĩa rộng: “Thị trường du lịch chỉ là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế thể hiện ra trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch. Mâu thuẫn cơ bản của thị trường du lịch là mâu thuẫn giữa nhu cầu và cung cấp sản phẩm du lịch”.
Tiếp cận theo marketing du lịch: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo nghĩa rộng thị trường du lịch là tập hợp người mua với tư cách là người tạo ra thị trường du lịch và người bán với tư cách là người tạo ta ngành du lịch. Theo nghĩa hẹp (góc độ của nhà kinh doanh du lịch) thị trường du lịch là nhóm người mua có nhu cầu và mong muốn về một sản phẩm du lịch hay một dãy sản phẩm du lịch cụ thể được đáp ứng hoặc chưa được đáp ứng. Phân loại thị trường du lịch: Căn cứ vào vị trí địa lý và biên giới lãnh thổ, thị trường du lịch chia làm hai loại là thị trường du lịch quốc gia và thị trường du lịch quốc tế(trong đó có thị trường du lịch inbound). Từ đó suy ra, thị trường inbound được hiểu theo nghĩa hẹp từ góc độ marketing du lịch là: nhóm người mua là khách inbound có nhu cầu và mong muốn về một sản phẩm du lịch hay một dãy sản phẩm du lịch cụ thể được đáp ứng hoặc chưa được đáp ứng.Vườn Quốc gia Theo quyết định Số 62/2005/QĐ-BNN, ngày 12 tháng 10 năm 2005, về việc ban hành Bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng, khái niệm Vườn Quốc Gia (VQG) được hiểu là: “VQG là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển,có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động du lịch sinh thái được kiểm soát và ít có tác động tiêu cực.” VQG ở Việt Nam được hiểu theo khoản 1 điều 13 quy chế quản lý rừng ban hành theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 08 năm 2006 của thủ tướng chính phủ như sau: “VQG là khu vực tự nhiên trên đất liền 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp. VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và DLST. VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn.