Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2010–2015, ngành du lịch tỉnh Đắk Nông ghi nhận sự chuyển biến tích cực khi tổng lượt khách tăng từ 138.000 lượt năm 2010 lên 197.768 lượt năm 2015, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,46%/năm. Mặc dù sở hữu diện tích tự nhiên 6.514,38 km2 với gần 300.000 ha rừng tự nhiên cùng hệ thống hang động núi lửa Krông Nô dài nhất Đông Nam Á, lượng khách đến tỉnh vẫn ở mức rất khiêm tốn. Tỷ trọng khách du lịch quốc tế chỉ chiếm từ 2,7% đến 5,2% tổng lượt khách toàn tỉnh, phản ánh thực trạng nhận diện thương hiệu điểm đến còn mờ nhạt.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ nghịch lý giữa nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn trù phú và hiệu quả khai thác du lịch thấp do các hoạt động quảng bá, xúc tiến chưa được đầu tư bài bản, thiếu tính chuyên nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị điểm đến, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010–2015, từ đó xác lập hệ thống giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2020.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, trọng tâm tại các điểm đến tiêu biểu như cụm thác Dray Sáp – Gia Long, thác Đắk G’Lun và các khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, Tà Đùng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ thực chứng giúp các nhà quản lý hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành, thúc đẩy tỷ trọng GDP du lịch – dịch vụ theo đúng định hướng tại Nghị quyết số 30/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản trị điểm đến du lịch (Destination Management Organization - DMO) của Lawton và Weaver (2005) kết hợp khung lý thuyết Marketing điểm đến của Steven Pike (2008). Trong mô hình này, điểm đến được tiếp cận như một thực thể không gian tổng hợp bao gồm tài nguyên, hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và các bên liên quan cùng tham gia chuỗi giá trị.

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Marketing hỗn hợp (Marketing Mix) với trọng tâm là biến số xúc tiến hỗn hợp (Promotion) và mô hình truyền thông AIDA (Attention - Interest - Desire - Action) của Simon Hudson. Theo đó, quy trình xúc tiến điểm đến phải dẫn dắt du khách tiềm năng qua 4 giai đoạn nhận thức: gây sự chú ý, tạo sự quan tâm, kích thích ham muốn trải nghiệm và thúc đẩy hành động đặt tour du lịch.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm: "Điểm đến du lịch" theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Khoản 8 Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam; "Xúc tiến du lịch" theo Khoản 17 Điều 4 Luật Du lịch; cùng các khái niệm chuyên ngành về "Hình ảnh điểm đến" và "Sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch" theo Thông tư số 89/2008/TT-BVHTTDL.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra hỗn hợp kết hợp giữa định lượng và định tính. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua kỹ thuật khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu N = 192 du khách, bao gồm 100 khách du lịch nội địa và 92 khách du lịch quốc tế. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng tại 3 không gian chức năng chính: các khu - điểm du lịch trọng điểm, các cơ sở lưu trú và hệ thống nhà hàng ẩm thực địa phương. Khảo sát được tổ chức thành 3 đợt liên tục từ tháng 09/2015 đến tháng 03/2016 nhằm triệt tiêu yếu tố sai lệch do tính thời vụ du lịch.

Phương pháp định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ lãnh đạo, chuyên viên quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông, Trung tâm Xúc tiến thương mại, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng đội ngũ hướng dẫn viên thực địa. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám thống kê giai đoạn 2010–2015 của Cục Thống kê Đắk Nông, các báo cáo chuyên ngành và hệ thống văn bản pháp lý như Nghị quyết số 23/2003/QH11, Nghị định số 92/2007/NĐ-CP.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp quy nạp và đối sánh chuẩn mực (benchmarking) với kinh nghiệm từ Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình (tăng trưởng khách 21,5%/năm) và Khánh Hòa (thu hút 3.685.000 lượt khách năm 2014) nhằm đảm bảo các đánh giá thực trạng có tính khách quan cao, đồng thời rút ra bài học thích ứng phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương miền núi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu dòng khách đến Đắk Nông có sự mất cân đối nghiêm trọng. Khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo từ 92,3% đến 96% tổng lượng khách, tăng từ 132.800 lượt năm 2011 lên 192.353 lượt năm 2015. Ngược lại, lượng khách quốc tế sau khi đạt đỉnh 7.200 lượt vào năm 2011 (tăng trưởng 41,18%) đã suy giảm liên tục xuống còn 5.415 lượt vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng âm ghi nhận ở mức -11,18% năm 2012 và -14,97% năm 2014.

Thứ hai, không gian khai thác du lịch bị phân mảnh và phân bố cục bộ. Cụm thác Dray Sáp – Gia Long thuộc huyện Krông Nô đón từ 100 đến 150 khách/ngày, chiếm tới 70% - 80% tổng cơ cấu khách tham quan toàn tỉnh. Trong khi đó, các điểm tài nguyên giàu tiềm năng khác như thác Đắk G’Lun chỉ đón khoảng 20 khách/ngày; các khu bảo tồn thiên nhiên rộng lớn như Nâm Nung (25.000 ha) hay Tà Đùng (28.000 ha) hầu như chưa khai thác được lượng khách đáng kể.

Thứ ba, công cụ xúc tiến truyền thông còn lạc hậu và đơn điệu. Kết quả khảo sát 192 du khách cho thấy nguồn tiếp cận thông tin chủ yếu vẫn qua kênh truyền miệng từ bạn bè, người thân hoặc tìm kiếm tự phát trên internet. Các kênh chính thống như website du lịch tỉnh, ấn phẩm brochure hay chương trình hội chợ triển lãm chỉ chiếm tỷ lệ tiếp cận dưới 15%.

Thứ tư, nguồn lực tài chính cho hoạt động xúc tiến du lịch còn eo hẹp, phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách hành chính sự nghiệp cấp hàng năm với hạn mức khiêm tốn. Cơ chế xã hội hóa xúc tiến du lịch gần như chưa được kích hoạt khi tỷ lệ đóng góp kinh phí từ các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn trên địa bàn đạt dưới 5%.

Thảo luận kết quả

Diễn biến dữ liệu tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2010–2015 có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ kết hợp (combo chart), trong đó trục cột thể hiện quy mô khách nội địa tăng đều đặn từ 132.353 lên 192.353 lượt và trục đường phản ánh sự trồi sụt của khách quốc tế quanh ngưỡng 5.000 - 7.000 lượt. Đồng thời, biểu đồ tròn phân bố thị phần du khách cho thấy mức độ tập trung cực đoan khi cụm thác Dray Sáp – Gia Long chiếm hơn 75% thị phần điểm đến.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên là do công tác xúc tiến điểm đến chưa xây dựng được thông điệp định vị cốt lõi mang bản sắc riêng biệt. Du lịch Đắk Nông vẫn bị xem là điểm dừng chân phụ trên tuyến hành trình Buôn Ma Thuột - Đà Lạt thay vì một điểm đến độc lập. Thêm vào đó, hạ tầng lưu trú tiêu chuẩn cao khan hiếm và giao thông kết nối liên huyện còn nhiều trở ngại khiến du khách quốc tế ngần ngại lưu trú dài ngày.

So sánh với mô hình thành công của tỉnh Ninh Bình (đón 4.357.000 lượt khách năm 2013) nhờ phát triển cổng thông tin đa ngôn ngữ Anh - Pháp - Việt và liên kết chặt chẽ với các hãng lữ hành lớn, hoạt động xúc tiến của Đắk Nông rõ ràng thiếu tính chuyên nghiệp và liên tục. Kinh nghiệm tổ chức Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa (đón hơn 150.000 lượt khách trong 4 ngày lễ hội năm 2015) cũng khẳng định rằng Đắk Nông cần nhanh chóng tạo lập các sự kiện văn hóa - thể thao quy mô lớn dựa trên di sản Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên và hang động núi lửa để tạo đòn bẩy truyền thông.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và chuẩn hóa nguồn nhân lực xúc tiến. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cần nâng cấp Trung tâm Xúc tiến Du lịch trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành đơn vị sự nghiệp chuyên trách tự chủ một phần kinh phí; đặt mục tiêu 100% cán bộ làm công tác xúc tiến được chuẩn hóa chứng chỉ marketing số và thành thạo tối thiểu một ngoại ngữ trước năm 2018.

Thứ hai, đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách và kích hoạt nguồn vốn xã hội hóa. Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành quy chế hợp tác công tư (PPP) trong quảng bá điểm đến, thiết lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch địa phương với mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp từ khối doanh nghiệp tư nhân lên mức 35% - 40% tổng ngân sách xúc tiến toàn tỉnh trong giai đoạn 2016–2020.

Thứ ba, hiện đại hóa hệ thống ấn phẩm và phát triển hệ sinh thái truyền thông số. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Nông chủ trì xây dựng cổng thông tin du lịch thông minh tích hợp bản đồ số và ứng dụng di động đa ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp) trước năm 2017; ứng dụng mô hình AIDA để triển khai chiến dịch quảng bá hình ảnh Công viên địa chất núi lửa Krông Nô trên các nền tảng mạng xã hội, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 50% lượng truy cập tìm kiếm thông tin về điểm đến đến năm 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết vùng và đồng sáng tạo sản phẩm xúc tiến liên tuyến. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ động ký kết hợp tác xúc tiến 4 bên với Thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Khánh Hòa; định kỳ tổ chức các đoàn khảo sát (famtrip và presstrip) mời ít nhất 30 hãng lữ hành quốc tế và cơ quan thông tấn lớn tham gia mỗi năm từ năm 2017 nhằm đưa Đắk Nông vào hệ thống tour bán lẻ chính thức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh và khu vực Tây Nguyên (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Du lịch). Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và cơ sở dữ liệu tin cậy để các cơ quan này xây dựng quy hoạch, đề án xúc tiến du lịch trung hạn giai đoạn 2016–2020 và tối ưu hóa chi tiêu công.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú và vận tải du lịch. Doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu thị trường chi tiết (đặc điểm 92,3% - 96% khách nội địa và hành vi của du khách châu Âu) để xây dựng gói sản phẩm tour khám phá sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần và thiết kế thông điệp quảng cáo phù hợp với thị hiếu từng phân khúc.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, Marketing. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu điểm đến cấp tỉnh, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi hỗn hợp 192 mẫu và quy trình vận dụng mô hình DMO vào thực tiễn địa phương.

Nhóm 4: Các ban quản lý di sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên (Nâm Nung 25.000 ha, Tà Đùng 28.000 ha) và các tổ chức phát triển cộng đồng. Luận văn gợi mở cách thức tích hợp hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa cồng chiêng, đàn đá cổ với các chiến dịch truyền thông điểm đến nhằm thúc đẩy du lịch sinh thái cộng đồng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến lượng khách quốc tế đến Đắk Nông sụt giảm trong giai đoạn 2011–2015 là gì? Sự sụt giảm từ 7.200 lượt năm 2011 xuống 5.415 lượt năm 2015 bắt nguồn từ hạ tầng giao thông kết nối liên huyện khó khăn, thiếu vắng cơ sở lưu trú đạt chuẩn quốc tế và công tác quảng bá tại thị trường nước ngoài gần như bị bỏ ngỏ, chưa tận dụng được hệ sinh thái số.

Cơ cấu khách du lịch tại Đắk Nông giai đoạn nghiên cứu có đặc điểm gì nổi trội? Khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo từ 92,3% đến 96% tổng lượt khách toàn tỉnh (đạt 192.353 lượt năm 2015), chủ yếu đến từ các trung tâm gửi khách lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Nha Trang và Đà Lạt với mục đích tham quan thuần túy ngắn ngày.

Luận văn đã vận dụng khung lý thuyết nào để phân tích hoạt động xúc tiến du lịch? Nghiên cứu tích hợp lý thuyết Quản trị điểm đến du lịch của Lawton & Weaver (2005), khung Marketing điểm đến của Steven Pike (2008), kết hợp mô hình truyền thông 4 giai đoạn AIDA của Simon Hudson và các quy định tại Điều 81 Luật Du lịch Việt Nam.

Kinh nghiệm xúc tiến của tỉnh Ninh Bình và Khánh Hòa đem lại bài học gì cho Đắk Nông? Đắk Nông cần học tập Ninh Bình (tăng trưởng khách bình quân 21,5%/năm) trong việc xây dựng cổng thông tin điện tử đa ngôn ngữ kết nối mạng lưới lữ hành, đồng thời học tập Khánh Hòa trong việc tổ chức sự kiện văn hóa biểu tượng thu hút hơn 150.000 lượt khách tham gia.

Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa được thực hiện ra sao? Nghiên cứu khảo sát trực tiếp 192 du khách (100 khách nội địa và 92 khách quốc tế) qua 3 đợt điều tra thực địa từ tháng 09/2015 đến tháng 03/2016 theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tại các điểm tham quan, cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị điểm đến du lịch (DMO) và quy trình xúc tiến theo Luật Du lịch Việt Nam.
  • Đánh giá thực chứng bức tranh du lịch Đắk Nông giai đoạn 2010–2015 với tốc độ tăng trưởng khách bình quân 7,46%/năm nhưng cơ cấu thị trường mất cân đối nghiêm trọng.
  • Xác định rõ các điểm nghẽn về nguồn kinh phí hạn hẹp, bộ máy xúc tiến kiêm nhiệm và thiếu vắng thông điệp định vị thương hiệu riêng biệt cho 8 đơn vị hành chính.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ về nhân lực, cơ chế vốn xã hội hóa, chuyển đổi số truyền thông và liên kết vùng tầm nhìn 2020.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu sơ cấp chuẩn xác từ 192 phiếu điều tra thực địa, tạo tiền đề khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về quản trị thương hiệu điểm đến miền núi.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến năm 2020, ngành du lịch tỉnh Đắk Nông cần khẩn trương số hóa dữ liệu điểm đến, tổ chức các chiến dịch famtrip liên kết vùng và triển khai đề án định vị Công viên địa chất núi lửa Krông Nô. Quý độc giả, các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý và phát triển du lịch địa phương.