CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng 1. Khái quát về xây dựng, quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng Theo nghĩa thông thường, “xây dựng” được hiểu là việc thi công, kiến thiết các cơ sở hạ tầng, công trình, nhà ở. Hoạt động xây dựng có nhiều điểm khác nhau với hoạt động sản xuất, cụ thể: Hoạt động sản xuất tạo lượng lớn các sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn hoạt động xây dựng hướng tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khác hàng riêng biệt.
Tại Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) khoản 21 Điều 21 định nghĩa về hoạt động xây dựng cụ thể như sau: “Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình”. [18] Trong thời gian gần đây, ngành xây dựng Việt Nam đã có những bước tiến vượt trội và gặt hái được nhiều kết quả đáng kể theo hướng hiện đại hoá trong các hoạt động như xây dựng công trình, quy hoạch xây dựng, vật liệu xây dựng, kiến trúc, phát triển đô thị và nhà ở, năng lực xây dựng ngày càng được cải tiến, đáp ứng tốt nhu cầu về xây dựng, kể cả những công trình quy mô lớn, đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại ở trong và ngoài nước. Không khó để thấy rằng, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, mạnh, thì ngành xây dựng giữ vai trò trụ cột chính. Tầm quan trọng của ngành xây 8 dựng khiến cho công tác QLNN về lĩnh vực xây dựng trở thành một nhu cầu bức thiết ở nước ta.
Theo giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, QLNN được định nghĩa là hoạt động của nhà nước trên 03 mặt lập - hành - tư pháp để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Quản lý hành chính Nhà nước là QLNN trong hoạt động hành pháp. Như vậy, quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xây dựng là thực hiện chức năng hành pháp trong lĩnh vực xây dựng. Quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xây dựng có cơ sở pháp lý vững chắc, sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó có công cụ quan trọng là XLVPHC (căn cứ theo quy định pháp luật về XLVPHC và quy định pháp luật chuyên ngành xây dựng).
Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng Khái niệm VPHC trong lĩnh vực xây dựng có thể được làm rõ trên cơ sở khái niệm VPHC. Tại Pháp lệnh 1989 Điều 1 khái niệm “vi phạm hành chính” là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc QLNN mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính [41]. Hiện nay khái niệm này được cụ thể hoá ở khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC 2012. Từ các khía cạnh trên, học viên đưa ra cách hiểu về VPHC là hành vi VPPL trong lĩnh vực QLNN mà chưa đến mức độ nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[15] Dựa trên định nghĩa chung về VPHC, VPPL hành chính là hành vi VPPL có mức độ nguy hại thấp đối với xã hội. Tuy nhiên, do tính đa dạng và phổ biến, VPHC thường xuyên xảy ra trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả lĩnh vực xây dựng. Vì vậy, có thể hiểu VPHC trong lĩnh vực xây dựng là hành vi VPPL về QLNN trong lĩnh vực xây dựng do cá nhân, tổ chức thực hiện, có lỗi, không cấu thành tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị XLVPHC. VPHC trong lĩnh 9 vực xây dựng bên cạnh mang những đặc điểm chung của VPHC còn có những đặc điểm cụ thể sau: Thứ nhất, VPHC trong lĩnh vực xây dựng gắn với tính kỹ thuật - kinh tế của ngành xây dựng.
Vì vậy, pháp luật đã ban hành riêng Nghị định số 16/2022/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực xây dựng. Thứ hai, VPHC trong lĩnh vực xây dựng thường gây thiệt hại cho Nhà nước và khó xử lý dứt điểm trong thời gian ngắn bởi việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm rất khó được triển khai theo đúng tiến độ và thường phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC. Thứ ba, đặc điểm nổi bật của VPHC trong lĩnh vực xây dựng là tính phổ biến về thời gian, địa điểm và chủ thể vi phạm. Vi phạm có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu và được thực hiện bởi nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm cá nhân, hộ gia đình và tổ chức.
Do đó, các lực lượng chức năng cần lưu ý đặc điểm này để có những biện pháp XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng phù hợp và hiệu quả. Thứ tư, hành vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng cũng rất đa dạng, các HVVP đó được các văn bản quy phạm pháp luật quy định như: thi công xây dựng không che chắn; có che chắn nhưng làm rơi vật liệu xây dựng xuống khu vực xung quanh; để vật liệu xây dựng không đúng nơi quy định; tổ chức thi công xây dựng không đúng nội dung giấy phép xây dựng; tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng; xây dựng công trình không đúng thiết kế xây dựng và không được thẩm định, phê duyệt trong trường hợp được miễn giấy phép xây dựng đã bị lập biên bản VPHC mà vẫn tiếp tục thực hiện HVVP,… 1. Cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng Cần xác định các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành VPHC trong lĩnh 10 vực xây dựng để nhận định một hành vi xảy ra có phải là VPHC hay không. Vì vậy, VPHC được cấu thành bởi 04 yếu tố, cụ thể: 1.
Mặt khách quan: Mặt khách quan của VPHC là tổng hợp các dấu hiệu bên ngoài của VPHC, gồm: - Hành vi trái pháp luật; - Hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra; - Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, song song là một số dấu hiệu khác như: thời gian, địa điểm vi phạm, công cụ, phương tiện, … VPHC là hành vi khách quan, được thể hiện dưới 02 dạng: - Hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm); - Không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện). Nếu không có hành vi VPPL hành chính của chủ thể thì không thể có VPHC. Cần tránh tình trạng áp dụng sai “nguyên tắc suy đoán” hoặc “tương tự pháp luật” trong việc xác định VPHC đối với chủ thể. Hậu quả của VPHC là xâm hại đến các quy định pháp luật về trật tự QLNN trong các hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.
Nghĩa là hậu quả của VPHC thể hiện các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính xác lập và bảo vệ đã bị xâm hại. Giữa hành vi VPHC và hậu quả của VPHC có mối quan hệ nhân quả. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của VPHC được thể hiện trên ba khía cạnh: - Hành vi phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; - Hành vi chứa đựng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả; - Hậu quả xảy ra là hệ quả tất yếu của HVVP này gây ra. 11 Trong đó lưu ý rằng hậu quả và thiệt hại xảy ra không đồng nhất với nhau.
VPHC có thể không gây ra thiệt hại, nhưng hậu quả xâm phạm trật tự QLNN vẫn xảy ra. Dấu hiệu thiệt hại là dấu hiệu không bắt buộc trong mặt khách quan của đa phần các cấu thành VPHC. Tuy nhiên một vài trường hợp thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc, do đó phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại mà nó gây ra. Ngoài ra, các yếu tố khác như: Thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện dùng để thực hiện VPHC, … cũng là mặt khách quan của VPHC.
Những yếu tố này không phổ biến nhưng trong một số trường hợp đây lại là dấu hiệu bắt buộc để xác định hành vi đó có phải là hành vi VPHC hay không. Mặt chủ quan: Là dấu hiệu thể hiện tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi VPHC, bao gồm các yếu tố: lỗi, mục đích và động cơ. • Lỗi: Là dấu hiệu cơ bản trong cấu thành của mọi loại VPHC. Đây là trạng thái tâm lý tiêu cực, biểu hiện thái độ của người vi phạm đối với hành vi VPPL của mình.
Lỗi có thể được thể hiện dưới hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý: Lỗi cố ý trong VPHC biểu hiện ở việc chủ thể thực hiện HVVP nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi pháp luật hoặc nghĩa vụ pháp lý nhưng vẫn chủ động thực hiện hành vi đó hoặc xem thường nghĩa vụ đó và không tuân thủ mặc dù họ hoàn toàn có khả năng tuân thủ. Lỗi vô ý trong VPHC được thể hiện khi một cá nhân thực hiện HVVP mà không biết hoặc không nhận ra hành vi của mình là trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhận thức ra điều đó. Hoặc thuộc trường hợp một người thực hiện HVVP do vô tình hoặc thiếu cẩn trọng mà không tuân thủ những nghĩa vụ 12 pháp lý bắt buộc mặc dù họ có khả năng và điều kiện để làm như vậy. Khi xác định dấu hiệu lỗi trong phạm vi chủ quan của VPHC, có nhiều quan điểm khác nhau về việc xem tổ chức có phạm lỗi hay không.
Có quan điểm cho rằng lỗi chỉ liên quan đến trạng thái tâm lý của cá nhân khi thực hiện HVVP, do đó không áp dụng khái niệm lỗi đối với tổ chức trong VPHC. Trong quá trình XLVPHC đối với tổ chức, việc chỉ cần xác định xem tổ chức có thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật là đủ.