CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 1. Khái niệm, đặc điểm và các vi phạm hành chính cụ thể liên quan đến hành vi vi phạm quy định về hoạt động tổ chức hành nghề luật sư 1. Khái niệm hoạt động tổ chức hành nghề luật sư Sự phát triển của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư luôn gắn liền với sự hình thành, phát triển của hệ thống chính trị nói chung và pháp luật nói riêng, là cầu nối giữa chính quyền Nhà nước và Nhân dân. Do vậy, luật sư và tổ chức hành nghề luật sư là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong đời sống xã hội.
Tại các nước phương Tây, hoạt động luật sư đã xuất hiện sớm trong phương thức tố tụng, bắt nguồn từ nền pháp chế La Mã cổ. Tuy nhiên, tại các nước Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, do ảnh hưởng bởi lịch sử, chế độ chính trị, tư tưởng lập pháp mà hoạt động luật sư ở nước ta xuất hiện khá muộn và được đưa vào hệ thống pháp luật tại nước ta từ khi bị thực dân Pháp xâm lược6. Trải qua thời gian dài với những chuyển biến lịch sử, nền chính trị và sự thay đổi cơ cấu của các cơ quan tư pháp, chế định luật sư chính thức được ghi nhận tại nước ta theo các văn bản quy phạm pháp luật lần lượt như sau: Pháp lệnh Tổ chức luật sư được Hội đồng Nhà nước7 thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1987; Pháp lệnh Luật sư được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 7 năm 2001 và đến nay Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 20128). Qua đó cho thấy, hiện nay chế định luật sư tại Việt Nam đang dần hoàn thiện và ngày càng phát triển để bắt kịp với xu thế của xã hội; xây dựng được hành lang pháp lý vững chắc để hoạt động nghề nghiệp luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ngày càng đi vào nề nếp, hoạt động ổn định và tạo dựng được niềm tin trong xã hội.
Để phân tích hoạt động tổ chức hành nghề luật sư, chúng ta cần hiểu khái niệm luật sư, bởi lẽ luật sư và tổ chức hành nghề luật sư là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết, tạo tiền đề cho nhau. Có thể nói luật sư là một bộ phận quan trọng để hình 6 Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, “Tổ chức hoạt động luật sư ở Việt Nam quá trình hình thành và phát triển”,[https://moj.vn/qt/cacchuyenmuc/70TuPhapVietNam/Pages/tu-lieu-nganh.aspx?ItemID=27] 7 Nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội 8 Được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012 9 thành và thành lập một tổ chức hành nghề luật sư, còn tổ chức hành nghề luật sư là tổ chức kinh tế tập hợp các luật sư hành nghề để cung cấp dịch vụ pháp lý. Do vậy, để hiểu rõ hơn khái niệm tổ chức hành nghề luật sư (sau đây gọi tắt là TCHNLS) và các hoạt động của tổ chức, trước hết chúng ta cần hiểu rõ khái niệm và vai trò của luật sư. Dựa trên quy định pháp luật và thực tiễn hành nghề luật sư ở các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, khái niệm luật sư còn mang tính định lượng hơn là một khái niệm mang tính hàn lâm khoa học.
Điều đó có nghĩa là đến nay, khái niệm luật sư hầu hết không đi vào hướng phân tích nội hàm của “luật sư” mà đưa ra các tiêu chuẩn, điều kiện, lĩnh vực hoạt động để phân tích khái niệm luật sư. Do vậy, khái niệm luật sư có thể hiểu theo các khía cạnh khác nhau. Theo đó, Pháp lệnh đầu tiên9 về chế định luật sư đã không đưa ra định nghĩa luật sư, mà chỉ quy định điều kiện để trở thành luật sư10. Tiếp đến Pháp lệnh luật sư năm 2001, khái niệm luật sư lần đầu tiên đã được quy định trong văn luật11 và đến nay, khái niệm luật sư được quy định hoàn chỉnh tại Điều 2 Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung tại Luật Luật sư năm 2012 (sau đây gọi tắt là Luật Luật sư) như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Theo Điều 10 Luật Luật sư quy định tiêu chuẩn luật sư: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.” Theo Điều 11 Luật Luật sư quy định điều kiện hành nghề luật sư: “Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.” Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu chỉ được gọi một người là luật sư khi người đó đảm bảo các điều kiện bao gồm: (i) được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, (ii) được cấp Thẻ luật sư và (iii) thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng.
Từ đó, có thể diễn giải khái niệm luật sư tại Việt Nam như sau: 9 Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 10 Điều 11 Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 11 Điều 1 Pháp lệnh luật sư năm 2001 10 Luật sư là người có quốc tịch Việt Nam, có bằng cử nhân luật, có chứng nhận đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo, trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, đạt kết quả của Kỳ kiểm tra hết tập sự hoặc được giảm, miễn đào tạo và miễn tập sự theo quy định của pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, đã gia nhập một Đoàn Luật sư, được cấp Thẻ Luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc với tư cách cá nhân12 Tuy nhiên, ngoài việc quy định về luật sư, các văn bản quy phạm pháp luật về chế định luật sư không quy định cụ thể về khái niệm TCHNLS mà chỉ quy định gián tiếp thông qua việc hành nghề luật sư trong TCHNLS; đồng thời quy định hình thức và các điều kiện để thành lập, hoạt động TCHNLS. Theo Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, Hội đồng Nhà nước Việt Nam chưa đặt ra khái niệm cũng như đề cập đến việc luật sư được hành nghề bằng hình thức nào như hành nghề cá nhân hay hành nghề trong tổ chức hành nghề, việc thành lập tổ chức hành nghề, loại hình tổ chức,… Do vậy, tại Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 chưa xuất hiện khái niệm tổ chức hành nghề luật sư mà chỉ quy định chung như sau: Điều 1: “Tổ chức luật sư ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là các Đoàn luật sư được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý”; Điều 7: “Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư. Khi có từ hai người trở lên có đủ điều kiện làm luật sư quy định ở Điều 11 của Pháp lệnh này đề nghị và được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương giới thiệu, Ủy ban nhân dân cùng cấp ra quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư, sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Căn cứ vào quyết định của Ủy ban nhân dân, những người có đề nghị nói ở đoạn 1 của Điều này tổ chức hội nghị thành lập Đoàn luật sư.
Hội nghị thông qua Điều lệ và bầu ra các cơ quan của Đoàn theo Quy chế Đoàn luật sư.” Điều 12: “Người mới được gia nhập Đoàn luật sư phải qua một thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm và một kỳ kiểm tra mới được công nhận là luật sư…” 12 Giáo trình Luật sư và nghề Luật sư, Học viện tư pháp, Nxb. Tư pháp, 2016, tr53 11 Như vậy, có thể thấy Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 không đặt ra yêu cầu, quy định về hình thức hành nghề của các luật sư mà chỉ quy định Luật sư được hành nghề sau khi tham gia thành lập Đoàn luật sư của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Sau khi Đoàn Luật sư được thành lập, các luật sư mới chỉ cần gia nhập Đoàn luật sư, trải qua tập sự và kỳ kiểm tra tập sự thì có thể được hành nghề luật sư. Cũng theo pháp lệnh này, tổ chức luật sư (hay TCHNLS) là khái niệm gần như đồng nhất với Đoàn luật sư, do vậy có thể nói giai đoạn này chưa có một hình thái rõ ràng về tổ chức kinh tế hành nghề luật sư.
Tương tự như khái niệm luật sư, khi Pháp lệnh Luật sư năm 2001 được ban hành, lần đầu tiên vấn đề “hình thức tổ chức hành nghề luật sư” chính thức được đặt ra và điều chỉnh bởi văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Pháp lệnh này đã quy định có hai hình thức TCHNLS là Văn phòng luật sư và Công ty luật hợp danh13. So với Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 có sự thay đổi tiến bộ hơn khi đã ràng buộc về hình thức hoạt động của Luật sư, quy định cụ thể điều kiện thành lập Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh. Từ đó, có thể thấy người đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của luật sư, gia nhập một Đoàn luật sư tại thời điểm này chưa đủ điều kiện để hành nghề luật sư mà phải thành lập, tham gia thành lập Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh hoặc ký hợp đồng lao động với Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh mới được hành nghề theo quy định.