CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẤP CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ. Chứng chỉ hành nghề luật sư 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nghề luật sư a, Khái niệm * Luật sư Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về luật sư và nghề luật sư.
Nghề luật sư là một trong những ngành, nghề có vai trò mật thiết và quan trọng trong đời sống xã hội trước đây và trong cả ngày nay. Trong quá trình hình thành và phát triển, Nhà nước đã có những sự điều chỉnh và ban hành các quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện về nghề luật sư: Theo Từ điển Tiếng Việt: “Luật sư là một danh từ nhằm để chỉ người chuyên bào chữa cho đương sự trước Tòa án theo pháp luật hoặc làm cố vấn về pháp luật nói chung” [8] Theo Tiến sĩ Phan Trung Hoài (2004), Luật sư là “một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và Nhà nước, trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lí khác.” [18] Theo Điều 2 của Luật về luật sư của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Luật sư được quy định là “Người hành nghề luật có Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của luật này và cung cấp các dịch vụ pháp lí cho xã hội” (Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, 1999, tr. Theo quy định này, Luật sư được hiểu là người có quốc tịch Việt Nam, có bằng Cử nhân Luật, có Chứng nhận đào tạo hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư, trải qua thời gian tập sự HNLS, đạt kết quả của kỳ Kiểm tra hết tập sự hoặc được giảm, miễn tập sự theo quy định của pháp luật, được cơ quan có thẩm quyền cấp CCHNLS, đã gia nhập một Đoàn luật sư, được cấp Thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lí cho khách hàng trong tổ chức HNLS hoặc với tư cách cá nhân. Định nghĩa này mở rộng phạm vi hành nghề của luật sư.
Căn cứ vào các quan điểm nêu trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn quan điểm theo Điều 2 Luật Luật sư 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 làm cơ sở lí luận để nghiên cứu, hoàn thiện đề tài của mình. * Nghề luật sư “Nghề” có thể hiểu là một lĩnh vực hoạt động lao động, trong đó con người vận dụng các tri thức, kỹ năng được đào tạo để làm ra những sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu của xã hội. Nghề luật là nghề liên quan đến luật pháp, như: luật sư, chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giảng viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật,… trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập. Trong xã hội pháp quyền, nghề luật là một nghề “cao cả” bảo vệ lẽ công bằng, lẽ phải.
Có thể hiểu “nghề luật” là một nghề trong xã hội, gắn liền với Nhà nước và pháp luật, trong đó người hành nghề luật sử dụng công cụ pháp luật để thực hiện các chuyên môn khác nhau. Từ những khái niệm trên, nhóm nghiên cứu đưa ra quan điểm về nghề luật sư như sau: Nghề Luật sư là một nghề luật, trong đó luật sư có quyền tự do lựa chọn hình thức hành nghề, cung cấp các dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 8 b, Đặc điểm của nghề luật sư Nghề luật sư mang những đặc điểm cơ bản sau [12]: Thứ nhất, về lĩnh vực hành nghề: Nghề Luật sư là nghề luật, với sự đề cao vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống. Nghề luật có những đặc trưng khác biệt so với các nghề nghiệp khác.Đầu tiên, nghề luật gắn liền với việc thực thi quyền lực Nhà nước, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ quan, tổ chức, gắn với hoạt động sáng tạo, áp dụng, thực thi, vận dụng pháp luật; Nghề luật là nghề lao động trí óc độc lập và tuân theo luật pháp và cũng là nghề sử dụng kiến thức tổng hợp của nhiều khoa học khác nhau.
Nghề luật đòi hỏi bản lĩnh kiên định, lòng dũng cảm, tính trung thực, đạo đức trong sáng và đòi hỏi tính chuẩn xác và thành thạo nhiều kỹ năng nghề nghiệp của người làm nghề. Cùng với sự phân công lao động xã hội, ngày càng nhiều những nghề nghiệp độc lập liên quan đến luật pháp xuất hiện. Nhiều nghề luật cụ thể ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của luật pháp. Hình thành nên hệ thống nghề Luật và các chức danh nghề phong phú, đa dạng; Trong đó, Nghề Luật sư là một nghề nghiệp và Luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp.
Thứ hai, về chức năng xã hội và nhân văn: Nghề Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo vệ quyền con người, góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội. Nghề Luật sư có tính nhân văn sâu sắc, Luật sư hành nghề không phải chỉ vì mục tiêu kinh tế đơn thuần, Nghề Luật sư có sứ mệnh cao cả, thực hiện chức năng xã hội – nghề nghiệp gắn với số phận con người. Nghề Luật sư xuất hiện gắn liền với nhu cầu tự thân nhằm chống lại các hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp một cách vô cớ, độc đoán. Mặt khác, Nghề Luật sư xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên nhân dân đồng tình ủng hộ và dần dần thu hút nhiều người tham gia bào chữa trước tòa.
Khi tiến hành hoạt động nghề nghiệp của mình, Luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Thứ ba, về đối tượng khách thể nghề nghiệp 9 Nghề Luật sư là nghề có tính chất dịch vụ, cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến pháp luật. Nghề Luật sư không trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ thông thường như những nghề nghiệp khác, nghề luật cung cấp dịch vụ pháp lý cho các khách hàng. Dịch vụ pháp lý của Luật sư là dịch vụ chuyên nghiệp, bởi đây là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động xã hội đối với Nghề Luật sư.
Dịch vụ pháp lý của Luật sư có phạm vi rộng, bao hàm toàn bộ các lĩnh vực pháp luật từ tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng đến cung cấp các dịch vụ pháp lý khác cho khách hàng trong mọi lĩnh vực pháp luật. Thứ tư, về quản lý đối với nghề nghiệp Luật sư: Nghề Luật sư có phương thức hành nghề khá tự do trên cơ sở kiến thức, kỹ năng cá nhân. Mặt khác, để thống nhất về hoạt động nghề nghiệp của luật sư, nhà nước buộc phải đặt ra các quy định quản lý đối với Nghề Luật sư có tính đặc thù, từ đó khiến cho luật sư phải gương mẫu, tự giác chấp hành pháp luật. Nghề Luật sư và Luật sư được quản lý chặt chẽ bằng quy định pháp luật hiện hành và hệ thống quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật điều chỉnh đối với Luật sư và Nghề Luật sư, đồng thời pháp luật về Luật sư còn quy định Luật sư phải tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư. Hai hệ thống này phối hợp chặt chẽ với nhau điều chỉnh đối với Nghề Luật sư tạo thành nguyên tắc kết hợp quản lý Nhà nước và tự quản đối với Luật sư và Nghề Luật sư. Nguyên tắc quản lý trên đảm bảo cho Nghề Luật sư phát triển đúng hướng, đạt mục đích nghề nghiệp của người hành nghề, đồng thời đạt được mục đích và hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của Nhà nước đối với các quan hệ xã hội liên quan đến Luật sư và Nghề Luật sư. Thứ năm, về đặc thù nghề nghiệp Luật sư: Nghề Luật sư là nghề gắn với số phận con người và việc thực thi pháp luật nên tiêu chuẩn và điều kiện để một người có thể trở thành Luật sư và hành nghề Luật sư cũng được quy định chặt chẽ.
Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là Luật sư. Nghề Luật sư là một nghề đặc biệt, có những đặc thù cơ bản như sau: 10 Một là, nghề Luật sư đòi hỏi những người hành nghề phải có trình độ chuyên môn và có tính chuyên nghiệp cao. Kiến thức chuyên môn sâu về pháp luật là cơ sở để Luật sư hành nghề. Hai là, luật sư hành nghề độc lập và tự chịu trách nhiệm cá nhân trước khách hàng về hoạt động nghề nghiệp của mình.
Tính độc lập là cơ sở quan trọng trong hoạt động nghề nghiệp của Luật sư. Ba là, luật sư là một nghề không chỉ đòi hỏi về chuyên môn cao mà còn đòi hỏi người hành nghề phải có tư cách đạo đức tốt. Luật sư mang trên mình niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác. Sự tin cậy đôi khi có thể bị lạm dụng và sự lạm dụng này sẽ hạ thấp danh dự nghề nghiệp, xói mòn niềm tin vào công lý và pháp luật.
Quy tắc đạo đức nghề nghiệp góp phần khắc phục sự mất cân bằng và giải quyết những xung đột về quyền lợi có thể xảy ra. [11] Cùng với những đặc thù của nghề, hoạt động của Luật sư cũng mang những nét đặc trưng riêng. Bản chất của hoạt động luật sư được biểu hiện rõ qua những thuộc tính đặc trưng như tính tuân thủ pháp luật, tính dân chủ, tính độc lập, tính xã hội, và một thuộc tính đặc biệt quan trọng là uy tín nghề nghiệp cá nhân. c, Vai trò của nghề luật sư Nghề Luật sư là một nghề đặc biệt, góp phần giảm thiểu các vụ án oan sai, bảo vệ quyền lợi của khách hàng trên cơ sở các quy định của pháp luật, qua đó vị trí, vai trò của luật sư đồng thời cũng thể hiện vai trò của nghề luật sư trong xã hội ngày càng được nâng cao.