Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 1. Hình thức tổ chức hành nghề Luật sư 1.1 Khái quát chung về nghề Luật sư: 1. Khái niệm nghề luật sư: Ở góc độ nghề nghiệp, nghề luật sư được coi như một nghề kinh doanh có điều kiện, thuộc phân ngành dịch vụ, chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng; Ở Việt Nam, nghề luật sư một phân nhánh trong danh sách nghề luật, được gọi với tên chung “các chức danh tư pháp”, cùng với Thẩm phán, Kiểm sát viên; Chấp hành viên, Công chứng viên; và được Luật sư Phan Trung Hoài định nghĩa như sau: Nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa [12].2 Đặc điểm của nghề luật sư: (i) Nghề luật sư là một nghề chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật, với phương thức hành nghề tự do; gắn với năng lực và uy tín của cá nhân ; (ii) Nghề luật sư mang tính chất dịch vụ; được khách hàng trả thù lao và phải nộp thuế cho nhà nước như các hoạt động kinh doanh khác ; (iii) Nghề luật sư là nghề hoạt động độc lập, không thể kiêm nhiệm; (iv) Nghề luật sư chịu sự điều chỉnh của pháp luật và quy tắc đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp luật sư.2 Khái quát chung về hành nghề Luật sư 1.1 Khái niệm hành nghề luật sư Hành nghề luật sư là việc luật sư thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp như tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật; soạn thảo các loại văn 7 n bản pháp lý; tổ chức đàm phán để thương lượng giải quyết các tranh chấp với mục đích nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các thân chủ và luật sư được nhận lại thù lao, chi phí do khách hàng chi trả. Hoạt động hành nghề luật sư mang tính chất tìm kiếm lợi nhuận; là một loại dịch vụ về nghề nghiệp, hay nói cách khác hành nghề luật sư là một hình thức hoạt động kinh doanh.
Đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chịu sự can thiệp, giám sát hoạt động bằng các cơ chế theo quy định của pháp luật, cụ thể là Luật sư khi hành nghề phải đăng ký hoạt động và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề và chịu sự giám sát đạo đức nghề nghiệp, tương tự như một số nghề tự do khác như: Bác sỹ, Kiểm toán viên.Theo đó, việc hành nghề luật sư phải tuân thủ nguyên tắc: Tuân thủ pháp luật và quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp luật sư do tổ chức xã hội nghề nghiệp (Liên đoàn luật sư) ban hành. Ngoài ra, việc hành nghề luật sư còn phải tuân theo các nguyên tắc khác như sau: Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho khách hàng và cũng như các hoạt động kinh doanh khác, khi hành nghề thì các luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động nghề nghiệp của mình.2 Phạm vi hành nghề luật sư: Qua các thời kỳ khác nhau, mặc dù nội dung quy phạm pháp luật có khác biệt đôi chút nhưng tựu chung lại, có thể khái quát phạm vi hành nghề luật sư bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như sau: - Tham gia tố tụng trong các vụ án được giải quyết tại các cơ quan tiến hành tố tụng và tài phán để bào chữa (biện hộ), bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ. Đây chính là hoạt động nguyên thủy của Luật sư ngay từ giai đoạn sơ khai, là gốc của nghề Luật sư khi còn được gọi với danh “Thầy cãi” và cho đến thời điểm hiện tại, tham gia tố tụng vẫn là hoạt động hành nghề chủ yếu của Luật sư. Việc tham gia tố tụng của các luật sư không những để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những 8 n thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, đảm bảo hoạt động xét xử khách quan, công bằng và đúng pháp luật.
- Tư vấn pháp luật: Là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến và giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ. Khi thực hiện tư vấn pháp luật, luật sư không đơn giản là việc giải thích nội dung quy định pháp luật mà còn phải vận dụng kiến thức pháp luật, sử dụng kinh nghiệm để đưa ra phương án, lời khuyên hợp lý cho khách hàng lựa chọn vừa đảm bảo đúng pháp luật lại có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng cho khách hàng. Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực pháp luật. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển và trình độ dân trí được nâng cao thì nhu cầu cần giải đáp, hỗ trợ về pháp luật khi tham gia các quan hệ xã hội của người dân ngày càng tăng nhanh và tư vấn pháp luật trở thành lĩnh vực hành nghề quan trọng của các luật sư.
Lĩnh vực này ngày càng được mở rộng và phát triển trong nhiều quan hệ xã hội từ dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình, lao động đến đầu tư, doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế. - Đại diện ngoài tố tụng và các hoạt động hành nghề khác mang tính chất hỗ trợ pháp lý cho người dân như: Soạn thảo văn bản, thực hiện thủ tục hành chính. Khái quát chung về các hình thức tổ chức hành nghề luật sư 1.1 Khái niệm tổ chức hành nghề luật sư Tổ chức theo nghĩa của một danh từ, được hiểu là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động về lợi ích chung. Hành nghề luật sư là một hình thức hoạt động kinh doanh mang tính chất dịch vụ nghề nghiệp với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, cho nên tổ chức hành nghề luật sư là tập hợp luật sư theo cơ cấu nhất định để hoạt động hành nghề luật sư nhằm mục đích lợi nhuận.
Hay nói cách khác, tổ chức hành nghề luật sư là một loại hình tổ chức kinh tế (doanh nghiệp), hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Phần lớn các nước trên thế giới đều thừa nhận tổ chức hành nghề luật sư là một loại hình doanh nghiệp, một chủ thể kinh doanh, được thành lập và hoạt động 9 n theo quy định của pháp luật và chịu sự giám sát đồng thời của cơ quan quản lý nhà nước về tư pháp và các tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư. Pháp luật Việt Nam cũng như thế giới đều không có khái niệm cụ thể về tổ chức hành nghề luật sư, tuy nhiên trên cơ sở lý luận về doanh nghiệp và gắn với hoạt động hành nghề luật sư, có thể định nghĩa tổ chức hành nghề luật sư như sau: Tổ chức hành nghề luật sư là tổ chức cung cấp dịch vụ, đăng kí hoạt động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện hoạt động cung cấp các loại dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo quy định của pháp luật và nhận thù lao.2 Đặc điểm của tổ chức hành nghề luật sư: Nghiên cứu từ góc độ Luật kinh tế, với tư cách là một loại hình doanh nghiệp, các tổ chức hành nghề luật sư có các đặc điểm nhận dạng như sau: Thứ nhất, về chủ thể thành lập và tư cách thành viên của tổ chức hành nghề luật sư: Hành nghề luật sư là một loại hình dịch vụ nghề nghiệp do các Luật sư thực hiện, vì vậy hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định về đối tượng chủ thể có quyền thành lập và tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải là các Luật sư. Tuy nhiên, cũng có một số nước (Anh, Singapore) có quy định mở hơn về việc tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động hoặc tổ chức, cá nhân khác đều có quyền liên kết với các luật sư để thành lập một tổ chức hành nghề luật sư mới.
Pháp luật Việt Nam theo xu thế chung quy định chỉ các Luật sư mới có quyền thành lập và tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Quy định về chủ thể tham gia thành lập và tư cách thành viên tổ chức hành nghề luật sư được xem là điều kiện kinh doanh (hạn chế) của loại hình doanh nghiệp này; dẫn đến việc tư cách pháp lý của thành viên các tổ chức hành nghề luật sư không thể chuyển nhượng cho người khác hay được thừa kế. Thứ hai, tổ chức hành nghề luật sư là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chuyên biệt, tức là chỉ hoạt động trong một lĩnh vực duy nhất mang tên dịch vụ pháp lý. Dịch vụ pháp lý là một phân ngành của dịch vụ kinh doanh và được Tổ chức Thương mại thế giới định nghĩa như sau: “Dịch vụ pháp lý bao gồm các lĩnh vực tư 10 n vấn và đại diện đối với pháp luật nước tiếp nhận dịch vụ, pháp luật của nước sở tại, nước thứ ba, luật pháp quốc tế; dịch vụ chứng thực giấy tờ tài liệu; các dịch vụ tư vấn và thông tin khác.
Theo Danh mục phân loại các lĩnh vực dịch vụ (Danh mục CPC), dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ kinh doanh hay dịch vụ nghề nghiệp (CPC 861) được phân loại như sau: - Dịch vụ tư vấn và đại diện liên quan tới luật hình sự (86111) - Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục tư pháp liên quan tới các lĩnh vực pháp luật khác (86119) - Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục pháp lý trước các hội đồng tư pháp (86120) - Dịch vụ về văn bản và xác nhận (86130) - Các thông tin tư vấn pháp luật khác (86190). Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ pháp lý. Theo luật sư Phan Trung Hoài: “về mặt lý luận và thực tiễn, quan niệm về dịch vụ pháp lý ở Việt Nam chưa tương thích với khái niệm cùng loại của nhiều nước phát triển trên thế giới cũng như WTO” [14, tr.