Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu xử lí dư lượng kháng sinh trong nước bằng công nghệ quang xúc tác sử dụng vật liệu g-C3N4 pha tạp" do Nguyễn Thùy Giang thực hiện, thuộc ngành Khoa học môi trường (mã số 9.01), Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, năm 2025. Người hướng dẫn khoa học là TS Nguyễn Thế Hùng và TS Đặng Văn Thành (phần cam đoan ghi học hàm GS. TS và PGS. TS). Đây là luận án thực nghiệm thuộc hướng định lượng, nằm ở giao điểm giữa khoa học môi trường và hóa học vật liệu. Nghiên cứu được tài trợ từ đề tài mã số B2023-TNA-23 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu. Tác giả trình bày các lập luận sau:

  • Kháng sinh được con người và động vật hấp thụ một phần, phần còn lại bài tiết ở dạng hoạt động và đi vào hệ thống nước thải.
  • Dư lượng kháng sinh làm gia tăng vi khuẩn kháng kháng sinh và gen kháng kháng sinh trong môi trường.
  • Nồng độ kháng sinh trong nước thải của nhà máy xử lý nước thải nhìn chung thấp, nhưng tác động sinh thái độc học tiềm ẩn và khối lượng xả thải lớn gây nguy cơ cho vùng nước tiếp nhận.
  • Các công nghệ xử lý thông thường không loại bỏ hiệu quả dư lượng kháng sinh.
  • Quang xúc tác, một dạng quá trình oxi hóa nâng cao (AOP), được đánh giá cao nhờ khả năng khoáng hóa chất ô nhiễm bằng ánh sáng.
  • g-C3N4 được nêu là vật liệu có thể hoạt động trong vùng ánh sáng nhìn thấy, với tỷ lệ tới 47% (400–700 nm).

Về khoảng trống, tác giả nêu hai điểm:

  • Các phương pháp pha tạp boron (B) hiện có phức tạp, dùng hóa chất nguy hiểm và đưa vào tạp chất không mong muốn.
  • Các nghiên cứu còn thiếu đánh giá toàn diện tác động của pH, nồng độ chất ô nhiễm, các ion, chất hữu cơ và khả năng tái sử dụng vật liệu. Cơ chế giải thích ảnh hưởng của các ion tới quá trình quang xúc tác cũng cần được làm rõ.

Mục tiêu. Luận án không nêu câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu được đánh số, mà đặt mục tiêu chung và hai mục tiêu cụ thể.

  • Mục tiêu chung: phát triển vật liệu g-C3N4 pha tạp B hoạt động trong vùng ánh sáng nhìn thấy, có hiệu suất xử lý cao dư lượng kháng sinh trong nước.
  • Mục tiêu cụ thể (i): xây dựng phương pháp tổng hợp g-C3N4 pha tạp B bằng thủy nhiệt kết hợp nhiệt phân. Vật liệu cần có cấu trúc hình ống rỗng, giảm năng lượng vùng cấm và hạn chế tái tổ hợp cặp điện tử/lỗ trống.
  • Mục tiêu cụ thể (ii): đánh giá hiệu quả phân hủy, xác định điều kiện tối ưu và khả năng tái sử dụng qua nhiều chu kỳ, đồng thời đề xuất cơ chế phản ứng.

Đối tượng và phạm vi. Đối tượng là vật liệu g-C3N4 pha tạp B và việc xử lý một số kháng sinh trong nước, gồm tetracycline (TC), sulfamethoxazole (SMX) và ciprofloxacin (CIP). Phạm vi là thực nghiệm quy mô phòng thí nghiệm, thực hiện từ năm 2020 đến năm 2024 (theo lời cam đoan). Một số phép đo được thực hiện tại Đài Loan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Chương 1 điểm lại các hướng nghiên cứu sau.

Ô nhiễm kháng sinh ở Việt Nam và khu vực.

  • Managaki và cs. (2007) phát hiện SMX, SMT, TMP và ERY trong nước sông Mê Kông và kênh ở Đồng bằng sông Cửu Long, nồng độ 7–174 ng/L.
  • Nguyen Dang Giang Chau và cs. (2015) báo cáo 91,6% mẫu nước mặt tiếp nhận nước thải nuôi trồng thủy sản có chứa một loại kháng sinh, và 55,2% chứa 3–4 loại.
  • Ngo Thanh Huy và cs. nghiên cứu sông Cầu, trong đó lincomycin (LIN) khoảng 0,30–24,9 ng/L và SMX trung bình 21,6 ng/L (tối đa 66,6 ng/L).
  • Tran Ngoc Han và cs. ghi nhận SMX trung bình 255 ng/L trong một số hồ nội thành Hà Nội.
  • Tổng hợp của Hoang Quoc Anh và cs. (2021) về nồng độ kháng sinh từ các nguồn thải ở Việt Nam được trình bày trong Bảng 1.
  • Zhang và cs. (2015) nêu sản lượng kháng sinh của Trung Quốc năm 2013 là 248.000 tấn.
  • Angelino và cs. nêu số cơ sở dược được phép sản xuất ở Việt Nam là 189 (2017), so với 131 (2014) và 101 (2010).

Phương pháp xử lý. Luận án điểm lại hấp phụ (Dhangar và Manish, 2020), công nghệ màng, phương pháp sinh học và phương pháp hóa học, trong đó có AOP (Ghime và Prabir, 2020). Fujishima và Honda (1972) được nhắc đến với hiện tượng tách nước trên điện cực TiO2 dưới bức xạ UV.

Vật liệu g-C3N4.

  • Wang và cs. (2009) lần đầu đề xuất g-C3N4 làm chất xúc tác quang bán dẫn polymer không chứa kim loại, với vùng cấm khoảng 2,7 eV.
  • Teter và cs. tính toán năm pha carbon nitride, với vùng cấm lần lượt là 5,49; 4,85; 4,30; 4,13 và 2,7 eV.
  • Các công trình về pha tạp P (Zhang và cs., 2010, 2013), pha tạp S (Liu và cs.; Hong và cs., 2012) và pha tạp kiềm (Xiong và cs.).
  • Bảng 1.3 tổng hợp các nghiên cứu pha tạp (Yan và cs., 2019; Zheng và cs., 2020; Lei và cs., 2020; Yang và cs., 2020; Jing và cs., 2021; Yi và cs., 2020).

Nghiên cứu trong nước về g-C3N4.

  • Nguyễn Văn Phúc và cs. pha tạp O và F, đạt hiệu suất phân hủy Rhodamine B 75% sau 7 giờ.
  • Đoàn Thị Thúy Phượng (2023) nghiên cứu g-C3N4 pha tạp Nd3+, trong đó mẫu CNNd-6 phân hủy hoàn toàn RhB trong 200 phút.
  • Các tổ hợp Ag/ZnO/g-C3N4 (Vũ Anh Tuấn và cs.), C-TiO2/g-C3N4 (Nguyễn Thị Phương Lệ Chi và cs.), g-C3N4/ZnO-GaN (đạt 98,1% sau 5 giờ với xanh metylen) và g-C3N4/SnO2 (99,42% trong 2 giờ, theo Nguyen Van Kim và cs.).
  • Nguyen Quoc Thang và cs. chế tạo g-C3N4/Ag/ZnO, với hiệu suất phân hủy paracetamol 85,3%, cefalexin 71,74% và amoxicillin 41,36%.

Khoảng trống được lựa chọn. Luận án chọn pha tạp B trên g-C3N4 bằng quy trình đơn giản, kết hợp đánh giá nhiều yếu tố ngoại cảnh và đề xuất cơ chế. Phần tổng quan cũng ghi nhận rằng ở Việt Nam chưa có quy định liên quan đến dư lượng kháng sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết. Luận án dựa trên nguyên lý quang xúc tác bán dẫn, gồm ba bước:

  • hấp thụ ánh sáng và tạo hạt mang điện;
  • tách hạt mang điện;
  • phản ứng oxi hóa và khử trên bề mặt.

Các khái niệm được sử dụng gồm vùng dẫn (CB), vùng hóa trị (VB), năng lượng vùng cấm (Eg), tái tổ hợp electron–lỗ trống, các gốc oxy hóa hoạt động (ROS) như O2●− và ●OH, và cơ chế dị thể kiểu Z-scheme, S-scheme. Peroxymonosulfate (PMS) được dùng như chất hỗ trợ trong một hệ xử lý TC. Chương 3 còn dùng thế zeta, điểm đẳng điện và dạng tồn tại của kháng sinh theo pH để giải thích kết quả.

Phương pháp thực nghiệm.

  • Chế tạo vật liệu bằng hai quy trình:
    • nhiệt phân trực tiếp tạo 1DBCN (g-C3N4 pha tạp B dạng ống), so sánh với 2DGCN và 1DGCN;
    • thủy phân kết hợp nhiệt phân ở nhiệt độ cao tạo TGCN-Bx (x = 1–4), so sánh với TGCN.
  • Đặc trưng vật liệu bằng SEM, SEM-EDS, TEM/HR-TEM, BET, XRD, FTIR, XPS, UV-Vis-DRS, PL, TRPL, EIS và EPR/ESR.
  • Định lượng chất ô nhiễm: đường chuẩn TC trong khoảng 0,5–10 mg/L; UPLC được liệt kê trong danh mục chữ viết tắt.
  • Thí nghiệm quang xúc tác dưới ánh sáng nhìn thấy, khảo sát thời gian phản ứng, nồng độ chất ô nhiễm, nồng độ vật liệu, pH, ion và humic acid, khả năng tái sử dụng sau 5 chu kỳ.
  • Cơ chế được kiểm tra bằng chất bắt gốc (như 1,4-BQ, EDTA, AO, t-BuOH, SA) và EPR với DMPO, TEMPO.
  • Đánh giá độc tính sản phẩm trung gian bằng thử nghiệm kháng khuẩn với vi khuẩn E. coli và ảnh EEM 3D.
  • Hiệu suất và động lực học phản ứng được xác định; số liệu được tổng hợp, phân tích và xử lý thống kê (có phụ lục "Kết quả xử lý thống kê").

Nguồn dữ liệu. Dữ liệu thực nghiệm do tác giả thu thập tại phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Nghiên cứu cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu (Trường Đại học Nông Lâm), Trường Đại học Y Dược (Đại học Thái Nguyên) và các phòng thí nghiệm ở Đài Loan.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Phần này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn, điểm mới và cấu trúc luận án. Điểm mới được tác giả mô tả bằng các số liệu về vật liệu:

Vật liệu Cấu trúc Diện tích bề mặt Năng lượng vùng cấm
1DBCN Ống nano đồng đều, 3 x 300 nm 81,1 m²/g 2,7 eV
TGCN-Bx Ống, đường kính tới 0,5 µm, dài tới vài µm 85–98 m²/g 2,68; 2,66; 2,64; 2,61 eV (x = 1, 2, 3, 4)

Tác giả nêu hiệu suất xử lý kháng sinh đạt tới 99% trong điều kiện phòng thí nghiệm, với pH ban đầu khảo sát trong khoảng 3–11.

Chương 1: Tổng quan

Chương gồm các nội dung sau:

  • Chất ô nhiễm mới nổi (EC, PhAC, PPCP, EDC) và con đường phát thải kháng sinh.
  • Hiện trạng ô nhiễm kháng sinh từ nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và nhà máy dược. Một số số liệu được nêu: kháng sinh thú y ở Việt Nam ước tính 2.751 tấn năm 2015 (lợn 58%, thủy sản 31%, gà 7%); tính đến năm 2013 có 20 hệ thống xử lý nước thải đô thị, chiếm chưa đến 10% lượng nước thải.
  • Tác động tới môi trường và sức khỏe, gồm kháng kháng sinh và mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột.
  • Các phương pháp xử lý (hấp phụ, màng, sinh học, hóa học, AOP).
  • Cấu trúc, tính chất và các phương pháp tổng hợp g-C3N4, với bảng tóm tắt ưu nhược điểm và quy mô của từng phương pháp (Bảng 1.2).
  • Tổng hợp g-C3N4 trên thế giới và tại Việt Nam, kể cả các chiến lược pha tạp nguyên tố.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: hình thái và diện tích bề mặt (0D, 1D, 2D, 3D), nồng độ chất ô nhiễm, nồng độ vật liệu, ion, pH, nhiệt độ và khả năng tái sử dụng. Về nồng độ chất ô nhiễm, Zouhier và cs. (2020) cho thấy hiệu suất giảm từ 91% xuống khoảng 70% với RBB và từ 84% xuống khoảng 44% với MB khi nồng độ thuốc nhuộm tăng từ 10 lên 50 ppm.

Chương 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương trình bày đối tượng, phạm vi, địa điểm, thời gian và sơ đồ thực nghiệm. Chương cũng mô tả quy trình chế tạo 1DBCN và TGCN-Bx, các kỹ thuật đặc trưng vật liệu (Bảng 2.3), phương pháp định lượng, quy trình quang xúc tác, đánh giá độc tính sản phẩm trung gian, xác định hiệu suất và động lực học, và xử lý số liệu. Điều kiện chuẩn của hệ TC được nêu trong các hình của Chương 3: nồng độ TC 10 ppm, vật liệu 0,5 g/L, PMS 0,3 mM, pH = 7.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phần 1: Vật liệu 1DBCN (nhiệt phân trực tiếp) và ứng dụng.

  • Đặc tính lý hóa của 2DGCN, 1DGCN và 1DBCN được so sánh (Bảng 3.1).
  • Tính chất quang học và năng lượng vùng cấm được xác định bằng UV-vis DRS.
  • Quang xúc tác xử lý TC có hỗ trợ của PMS được khảo sát theo nồng độ PMS, nồng độ vật liệu và pH, kèm thế zeta và dạng tồn tại của TC.
  • Khả năng tái sử dụng 1DBCN được kiểm tra qua 5 vòng xử lý TC, đồng thời đánh giá hiệu quả xử lý SMX và CIP.

Phần 2: Vật liệu TGCN-Bx (thủy phân và nhiệt phân).

  • Đặc tính lý hóa của TGCN và TGCN-Bx được xác định qua SEM, TEM, BET, XRD, FTIR và XPS.
  • Tính chất quang học, năng lượng vùng cấm và điện hóa được xác định bằng UV-Vis và các phép đo liên quan.
  • Hiệu suất xử lý SMX được khảo sát theo hấp phụ, nồng độ vật liệu TGCN-B2, nồng độ SMX ban đầu, pH (Bảng 3.3), ion và humic acid.
  • Ảnh EEM 3D theo dõi quá trình phân hủy ở các thời điểm 0, 5, 20 và 30 phút.
  • Khả năng tái sử dụng được khảo sát qua 5 chu kỳ, kèm phổ FTIR trước và sau phản ứng.

Phần 3: Đề xuất cơ chế.

  • Với 1DBCN kết hợp PMS, cơ chế phân hủy TC dưới ánh sáng nhìn thấy được đề xuất dựa trên các chất bắt gốc và phổ EPR (TEMPO-¹O2, DMPO-O2●−, DMPOX).
  • Với TGCN-Bx, cơ chế phân hủy SMX được đề xuất cho vật liệu TGCN-B2.
  • Hai vật liệu 1DBCN và TGCN-B2 được so sánh về hiệu suất xử lý nhiều loại kháng sinh (Bảng 3.4) và về đặc tính (Bảng 3.5).

Phần 4: Độc tính sinh học. Dung dịch SMX sau phản ứng được thử kháng khuẩn tại các thời điểm 0, 15 và 30 phút chiếu sáng, so với mẫu đối chứng, bằng vi khuẩn E. coli.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp tác giả nêu.

  • Về lý luận và khoa học: bổ sung kiến thức về vật liệu nano g-C3N4 pha tạp B bằng phương pháp tổng hợp đơn giản (thủy phân và nhiệt phân), đề xuất cơ chế quang xúc tác cho AOP và đưa ra cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường.
  • Về vật liệu: tạo được g-C3N4 pha tạp B dạng ống nano đồng đều, diện tích bề mặt lớn, hấp thụ tốt ánh sáng nhìn thấy, với các thông số như bảng ở phần Mở đầu.
  • Về hiệu suất: hiệu suất xử lý dư lượng kháng sinh đạt tới 99% trong điều kiện phòng thí nghiệm.
  • Về thực tiễn: đề xuất giải pháp công nghệ quang xúc tác cho việc phân hủy kháng sinh khó phân hủy, được tác giả mô tả là thân thiện với môi trường và không tạo chất độc hại thứ cấp. Tác giả cũng nêu triển vọng ứng dụng trong công nghiệp, nông nghiệp và xử lý nước sinh hoạt.
  • Về điều kiện khảo sát: đánh giá ảnh hưởng của thời gian phản ứng, nồng độ chất ô nhiễm, nồng độ vật liệu, pH (3–11) và các ion âm, dương thường gặp trong nước thải thực tế.

Kiến nghị. Phần Kết luận và kiến nghị (trang 106) không có trong đoạn văn bản được cung cấp, nên nội dung các kiến nghị cụ thể không được trình bày tại đây.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản được cung cấp không có phần hạn chế hay hướng phát triển riêng. Dựa trên phạm vi nghiên cứu, có thể ghi nhận:

  • Thí nghiệm được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm, với số loại kháng sinh có hạn (TC, SMX, CIP).
  • Hiệu quả xử lý được trình bày trong điều kiện mô phỏng nên việc đánh giá trên nước thải thực tế và quy mô lớn hơn chưa nằm trong phạm vi được nêu.
  • Tác giả đề cập phần mở rộng ứng dụng như một triển vọng, chưa như một kết quả đã kiểm chứng.

Giá trị tham khảo

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên ngành khoa học môi trường, hóa học vật liệu: Chương 1 có tổng hợp về các phương pháp tổng hợp g-C3N4 (Bảng 1.2), pha tạp nguyên tố (Bảng 1.3) và các yếu tố ảnh hưởng tới quang xúc tác. Chương 3 có quy trình đặc trưng vật liệu và đề xuất cơ chế dựa trên chất bắt gốc và EPR.
  • Người nghiên cứu ô nhiễm kháng sinh ở Việt Nam: Phần 1.1 và Bảng 1 tổng hợp nồng độ kháng sinh ở nhiều nguồn thải và vùng địa lý.
  • Người làm công nghệ xử lý nước: các phần về ảnh hưởng của pH, ion, humic acid và khả năng tái sử dụng của vật liệu qua 5 chu kỳ.

Câu hỏi thường gặp

Luận án sử dụng những vật liệu nào? Hai nhóm g-C3N4 pha tạp B dạng ống: 1DBCN, tổng hợp bằng nhiệt phân trực tiếp và so sánh với 2DGCN, 1DGCN; và TGCN-Bx (x = 1–4), tổng hợp bằng thủy phân kết hợp nhiệt phân ở nhiệt độ cao, so sánh với TGCN.

Các kháng sinh nào được xử lý? TC (có hỗ trợ PMS với 1DBCN), SMX (với TGCN và TGCN-Bx) và CIP (với 1DBCN, cùng SMX).

Năng lượng vùng cấm và diện tích bề mặt của vật liệu là bao nhiêu? 1DBCN có diện tích bề mặt 81,1 m²/g và vùng cấm 2,7 eV. TGCN-Bx có diện tích 85–98 m²/g, vùng cấm lần lượt 2,68; 2,66; 2,64 và 2,61 eV với x = 1, 2, 3, 4.

Hiệu suất xử lý tối đa mà tác giả nêu là bao nhiêu? Tới 99% trong điều kiện quang xúc tác tại phòng thí nghiệm.

Luận án đánh giá độc tính của sản phẩm sau phản ứng như thế nào? Bằng thử nghiệm kháng khuẩn với vi khuẩn E. coli trên dung dịch SMX sau 0, 15 và 30 phút chiếu sáng, so với mẫu đối chứng.

Kết luận

Luận án của Nguyễn Thùy Giang là nghiên cứu thực nghiệm về xử lý dư lượng kháng sinh trong nước bằng quang xúc tác với g-C3N4 pha tạp B dưới ánh sáng nhìn thấy. Tác giả chế tạo hai nhóm vật liệu dạng ống (1DBCN và TGCN-Bx) bằng các quy trình tương đối đơn giản. Hiệu quả phân hủy TC, SMX và CIP được khảo sát theo nhiều yếu tố như pH, nồng độ, ion, humic acid và số chu kỳ tái sử dụng. Cơ chế phản ứng được đề xuất dựa trên chất bắt gốc và phổ EPR, và độc tính dung dịch sau xử lý được kiểm tra bằng vi khuẩn E. coli. Phần tổng quan đặt nghiên cứu trong bối cảnh ô nhiễm kháng sinh ở Việt Nam và các nghiên cứu về g-C3N4 trong nước và quốc tế.