Tổng quan luận án

Chăn nuôi trâu, bò tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm thịt, sữa, sức kéo, phân bón và nguyên liệu chế biến. Tuy nhiên, phần lớn đàn gia súc vẫn được nuôi dưỡng theo phương thức truyền thống như quảng canh, chăn thả tự nhiên và tận dụng phụ phẩm, khiến vật nuôi thường xuyên đối mặt với nguy cơ nhiễm các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa. Bên cạnh bệnh sán lá gan lớn (Fasciola spp.), sán lá gan nhỏ (Dicrocoelium spp.) và sán lá dạ cỏ (Paramphistomum spp.), bệnh do sán lá tuyến tụy (Eurytrema spp.) gây ra nhiều tác động bất lợi như làm giảm sinh trưởng, giảm sản lượng sữa, gây suy nhược, sụt cân và có thể dẫn đến tử vong ở cường độ nhiễm nặng. Ngoài ra, lượng phân thải lớn từ chăn nuôi trâu, bò chưa qua xử lý kỹ thuật triệt để làm phát tán mầm bệnh và trứng ký sinh trùng ra môi trường tự nhiên. Tại tỉnh Tuyên Quang, dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho chăn nuôi đại gia súc, tập quán thả rông và quản lý chất thải còn bất cập khiến nguy cơ lây nhiễm sán lá rất cao; trước thời điểm đề tài được thực hiện, địa phương vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về bệnh sán lá tuyến tụy cũng như các biện pháp phòng trị hữu hiệu.

Nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn và khoảng trống khoa học đó, luận án tiến sĩ ngành Ký sinh trùng và Vi sinh vật học Thú y của nghiên cứu sinh Trần Nhật Thắng (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thị Kim Lan và TS. Phạm Diệu Thùy, đã xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá đường tiêu hóa trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang.
  2. Xác định được một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán lá tuyến tụy ở trâu, bò.
  3. Nghiên cứu và đề xuất được biện pháp phòng trị bệnh sán lá tuyến tụy cho trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm đàn trâu, bò nuôi tại tỉnh Tuyên Quang; các loài sán lá ký sinh ở đường tiêu hóa trâu, bò; bệnh do sán lá tuyến tụy Eurytrema spp. gây ra cùng các loài vật chủ trung gian liên quan gồm ốc cạn và châu chấu. Phạm vi không gian nghiên cứu được triển khai tại các nông hộ chăn nuôi và cơ sở giết mổ thuộc 5 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang (huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang). Các xét nghiệm chuyên sâu được thực hiện tại hệ thống phòng thí nghiệm của Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trung tâm nghiên cứu Khoa học sự sống – Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài được tiến hành liên tục từ năm 2020 đến năm 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên phạm vi quốc tế và trong nước về ký sinh trùng đường tiêu hóa ở gia súc nhai lại. Về sán lá gan lớn Fasciola spp., các nghiên cứu của Sothoeun (2007), Mas-Coma và cộng sự (2014), Takeuchi-Storm và cộng sự (2018) đã chứng minh khả năng lây truyền từ trâu, bò sang người; các tác giả Mochankana và Robertson (2018), Zewde và cộng sự (2019), Arias-Pacheco và cộng sự đã chỉ rõ tác hại làm suy giảm khả năng tiêu hóa, gây tổn thương xơ viêm gan và sụt cân. Đối với sán lá gan nhỏ Dicrocoelium, Manga-González và Ferreras (2019) mô tả vòng đời qua hai vật chủ trung gian là ốc cạn và kiến Formica, gây tổn thương túi mật và ống dẫn mật. Về sán lá dạ cỏ Paramphistomum spp., các khảo sát của Pfukenyi và cộng sự (2005) tại Nigeria, Kaewthamasorn và Wongsamee (2006) tại Thái Lan, Nzalawahe và cộng sự (2014) tại Tanzania, Rinca và cộng sự (2019), Nurhidayah và cộng sự (2020) tại Indonesia, Brahmbhatt và cộng sự (2021) tại Ấn Độ đã ghi nhận tỷ lệ nhiễm biến thiên rộng từ 2,28% đến 100% tùy điều kiện chăn thả.

Về giống sán lá tuyến tụy Eurytrema, tài liệu quốc tế ghi nhận sự phân bố rộng rãi tại châu Á và Nam Mỹ (Nieberle và Cohrs, 1970; De Sousa và cộng sự, 2021). Nhóm tác giả Sakamoto và Oikawa (2007), Ogawa và cộng sự ghi nhận các ca nhiễm sán lá tuyến tụy trên người tại Nhật Bản và Trung Quốc. Nghiên cứu của Tang (1950), Basch (1965), Jang (1969), Dvoryadki (1969), Nadykto (1973), Sakamoto và cộng sự (1980) đã xác lập vai trò của ốc cạn (họ Bradybaenidae, Helicidae, Camaenidae) là vật chủ trung gian thứ nhất mang vĩ ấu (Cercaria), và châu chấu (giống Conocephalus, Oecanthus, Epocromia) là vật chủ trung gian thứ hai mang nang ấu (Metacercaria). Tỷ lệ nhiễm sán lá tuyến tụy trên thế giới dao động từ 0,31% đến 80%, với các báo cáo tiêu biểu của Brant (1962), Mattos Junior và Vianna (1987), Azevedo và cộng sự (2004), Bassani và cộng sự (2006) tại Brazil; Tang và Tang (1975), Ma và cộng sự tại Trung Quốc; Okajima và cộng sự tại Nhật Bản; Kumar (1999), Lalrinkima và cộng sự tại Ấn Độ; Dorny và cộng sự (1996), Hanafiah và cộng sự (2019) tại Indonesia; Kaewnoi và cộng sự tại Thái Lan; Shien và cộng sự (1979) tại Đài Loan. Về điều trị, Sakamoto và cộng sự (1980), Li và cộng sự (1983) xác nhận hoạt chất praziquantel có hiệu lực làm giảm số lượng trứng sán thải qua phân; trong khi Araújo và Belém (1993), Yamamura và cộng sự (1995) ghi nhận albendazole, nitroxynil, triclabendazole, rafoxanide và closantel không có hoặc có hiệu lực rất thấp đối với sán lá tuyến tụy.

Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996) ghi nhận 11 loài sán lá ở gia súc nhai lại. Tình hình nhiễm sán lá gan được công bố bởi Nguyễn Hữu Hưng (2011) tại đồng bằng sông Cửu Long (51,91%), Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự (2018) tại Sơn La (45,33%), Phan Thị Hồng Phúc và cộng sự (2019) tại Hà Giang (52,73% - 55,33%). Tình hình nhiễm sán lá dạ cỏ được khảo sát bởi Trần Ngọc Thắng (2004) và Cao Văn Hồng (2010) với tỷ lệ 84,62% - 100%. Đối với sán lá tuyến tụy, các công bố còn rất rải rác: Galliard và Ngu (1941) phát hiện Eurytrema tonkinense; Drozdz và Malczewski (1967) ghi nhận tỷ lệ 50% ở bò miền Bắc và khu 4 cũ; Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) ghi nhận 0,55% - 25% ở bò Nam Trung bộ; Vũ Thị Hẹn (2014) ghi nhận 32% ở bò Ninh Bình và 24,82% ở Hà Nam; Nguyễn Thị Hồng Chiên và cộng sự (2011) ghi nhận 20% ở trâu Hà Nội và 3,33% ở dê Vĩnh Phúc. Về biện pháp xử lý phân, các nghiên cứu của Nguyễn Quang Thạch (2001), Phùng Đức Tiến và cộng sự (2008), Nguyễn Quang Tuyên và cộng sự (2011) khẳng định chế phẩm sinh học EM có khả năng ức chế vi sinh vật gây hại và phân giải hữu cơ.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Trước năm 2024, chưa có bất kỳ nghiên cứu nào được thực hiện tại tỉnh Tuyên Quang nhằm khảo sát toàn diện dịch tễ nhiễm sán lá đường tiêu hóa; thiếu hụt các nghiên cứu định danh chính xác loài sán lá tuyến tụy bằng sự kết hợp giữa hình thái học, kính hiển vi điện tử quét và sinh học phân tử; chưa xác định rõ các loài ốc cạn và châu chấu đóng vai trò vật chủ trung gian tại địa phương; thiếu các đánh giá thực nghiệm về biến đổi sinh lý, sinh hóa máu và mô bệnh học; đồng thời chưa có phác đồ điều trị và quy trình xử lý phân gia súc bằng chế phẩm sinh học được thử nghiệm chuẩn hóa cho trâu, bò trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phân loại học lớp sán lá Trematoda, phân bộ Distomata, họ Dicrocoeliidae, giống Eurytrema, cùng quy luật sinh thái học ký sinh trùng về mối quan hệ giữa vật chủ cuối cùng (gia súc nhai lại), vật chủ trung gian thứ nhất (ốc cạn), vật chủ trung gian thứ hai (châu chấu) và môi trường ngoại cảnh. Khung phân tích bệnh học tập trung vào cơ chế tác động cơ giới và độc tố của sán lá khi khu trú trong ống dẫn tụy và nhu mô tuyến tụy, gây hiện tượng tắc nghẽn, viêm mạn tính, tăng sinh mô liên kết xơ hóa, teo tổ chức tuyến ngoại tiết và tổn thương đảo tụy nội tiết Langerhans, dẫn đến suy giảm bài tiết enzyme tiêu hóa và hormone chuyển hóa carbohydrate.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng thiết kế dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu can thiệp và thực nghiệm lâm sàng:

  • Phương pháp chọn mẫu dịch tễ học: Áp dụng phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc tại 5 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang (mỗi đơn vị lấy 5 xã, mỗi xã chọn 4 thôn, tại mỗi thôn lấy ngẫu nhiên các hộ chăn nuôi). Cỡ mẫu được xác định bằng phần mềm OpenEpi version 3.01 (Dean và cộng sự, 2013) với tỷ lệ nhiễm dự đoán 30%, độ tin cậy 95%, tính ra cỡ mẫu lý thuyết trên 1.000 mẫu. Trên thực tế, tác giả đã thu thập tổng cộng 1.750 mẫu phân tươi (350 mẫu cho mỗi địa phương) và tiến hành mổ khám 300 trâu, bò (150 trâu và 150 bò; mỗi địa phương 30 trâu và 30 bò).
  • Kỹ thuật xét nghiệm phân: Mẫu phân được lấy trực tiếp từ trực tràng hoặc phân mới thải, bảo quản tiêu chuẩn. Xác định sự hiện diện của trứng sán lá bằng phương pháp lắng cặn; xác định cường độ nhiễm qua chỉ số trứng trong một gam phân (EPG - eggs per gram) bằng buồng đếm McMaster cải tiến.
  • Kỹ thuật định danh hình thái và siêu cấu trúc: Thu thập sán trưởng thành từ tuyến tụy gia súc mổ khám, làm tiêu bản ép nhuộm, đo đạc kích thước các cơ quan (thân, giác miệng, giác bụng, tinh hoàn, buồng trứng, tuyến noãn hoàng). Cấu trúc bề mặt sán được quan sát chi tiết dưới kính hiển vi quang học Nikon Eclipse Ni-U và kính hiển vi điện tử quét phân giải cao S-4800 (FE-SEM, Hitachi, Nhật Bản).
  • Kỹ thuật sinh học phân tử: Tách chiết DNA tổng số bằng DNeasy Tissue Kit (Qiagen, Đức); khuếch đại đoạn gen ribosome 18S rRNA và vùng đệm phiên mã nội ITS2 (The second internal transcribed spacer) trên máy PCR system 9700 sử dụng cặp mồi đặc hiệu và enzyme GoTaq DNA-polymerase; tinh sạch sản phẩm PCR bằng QIAquick PCR purification Kit (Qiagen, Đức); giải trình tự gen chu kỳ bằng BigDye Terminator Cycle Sequencing Kit trên máy phân tích tự động ABI 3730 DNA Analyzer (Applied Biosystems). Trình tự gen được đối chiếu trên ngân hàng gen NCBI và xây dựng cây phát sinh loài bằng phương pháp Maximum Likelihood.
  • Kỹ thuật bệnh lý, huyết học và sinh hóa: Thu thập mẫu tuyến tụy từ 3 trâu và 3 bò mắc bệnh; cố định mẫu trong dung dịch formol 10%, đúc khối parafin, cắt lát bằng máy cắt Microtom và nhuộm tiêu bản mô bệnh học bằng phương pháp Hematoxylin - Eosin (HE). Mẫu máu chống đông bằng EDTA được phân tích các chỉ tiêu số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố, công thức bạch cầu trên máy ABX Micros 60 (Horiba Medical, Pháp); các chỉ tiêu sinh hóa huyết thanh (glucose, protein toàn phần, albumin, AST, ALT, amylase) được định lượng trên máy Chemray 240 (Rayto, Trung Quốc).
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị và dự phòng: Đánh giá so sánh hiệu lực tẩy sán của 3 loại thuốc thú y thương phẩm: albendazole (uống), praziquantel (uống/tiêm) và nitroxynil (tiêm) trên các lô trâu bò nhiễm bệnh tự nhiên. Sau khi chọn được loại thuốc hữu hiệu, tiếp tục bố trí thử nghiệm 3 mức liều praziquantel (trong đó có liều 18 mg/kg thể trọng) để xác định liều tối ưu. Thử nghiệm khả năng diệt trứng sán trong phân bằng 3 chế phẩm sinh học: EMUNIV, EMIC và EMZEO ở các thời điểm trước và sau ủ phân. Đánh giá tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá tuyến tụy sau can thiệp tẩy dự phòng tại các thời điểm 1 tháng và 4 tháng.
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu được quản lý, tính toán tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, sai số chuẩn và kiểm định thống kê y sinh học theo độ tin cậy P = 0,05 và P = 0,01.

Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm dữ liệu thống kê số lượng đàn trâu bò của Cục Thống kê và Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh Tuyên Quang năm 2021; dữ liệu thực địa từ 1.750 mẫu phân, 300 ca mổ khám tại lò mổ; mẫu vật thể ốc cạn và châu chấu thu thập trên các sinh cảnh đồng cỏ và quanh chuồng nuôi trâu, bò tại 5 huyện, thành phố nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 khái quát các cơ sở lý luận về đặc điểm sinh học, phân loại học và chu kỳ phát triển của các loài sán lá đường tiêu hóa ở gia súc nhai lại (Fasciola spp., Dicrocoelium dendriticum, Paramphistomum spp., Eurytrema spp.). Tác giả phân tích chi tiết vòng đời sán lá tuyến tụy: trứng sán chứa ấu trùng theo phân ra ngoài được ốc cạn nuốt, phát triển qua các giai đoạn bào ấu (Sporocyst) và vĩ ấu (Cercaria), sau đó vĩ ấu thoát ra ngoài bám vào chất nhầy để châu chấu nuốt và chuyển thành nang ấu (Metacercaria); trâu bò ăn phải châu chấu hoặc thực vật nhiễm nang ấu sẽ mắc bệnh.

Chương này cũng tổng hợp danh lục 22 loài ốc cạn là vật chủ trung gian thứ nhất (thuộc các giống Bradybaena, Cathaica, Ganesella, Fruticicola, Acusta) và 16 loài châu chấu là vật chủ trung gian thứ hai (thuộc giống Conocephalus, Oecanthus, Epocromia, Phaneroptera, Nemobius) được ghi nhận trên thế giới. Bên cạnh đó, tác giả trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng chăn nuôi gia súc của tỉnh Tuyên Quang năm 2021, đồng thời tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, biến đổi bệnh lý, cơ chế tác dụng của các thuốc tẩy ký sinh trùng và vai trò của chế phẩm vi sinh hữu hiệu (EM) trong xử lý môi trường chất thải chăn nuôi.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch thực nghiệm, phân bố dung lượng mẫu và các phương pháp kỹ thuật được áp dụng trong toàn bộ đề tài. Nội dung nghiên cứu được chia thành 3 phần trọng tâm: đặc điểm nhiễm sán lá đường tiêu hóa; nghiên cứu định danh, dịch tễ, bệnh lý sán lá tuyến tụy; nghiên cứu biện pháp phòng trị. Về cỡ mẫu thực địa, số liệu mẫu phân và số lượng trâu, bò mổ khám tại 5 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang được phân bổ như sau:

STT Địa phương (huyện, thành phố) Số mẫu phân trâu Số mẫu phân bò Tổng mẫu phân Số trâu mổ khám Số bò mổ khám Tổng gia súc mổ khám
1 Huyện Chiêm Hóa 280 70 350 30 30 60
2 Huyện Hàm Yên 260 90 350 30 30 60
3 Huyện Yên Sơn 240 110 350 30 30 60
4 Huyện Sơn Dương 225 125 350 30 30 60
5 Thành phố Tuyên Quang 255 95 350 30 30 60
Tổng 5 địa phương 1.260 490 1.750 150 150 300

Phương pháp chuẩn hóa các biến số dịch tễ học trong nghiên cứu được phân định thành: 4 nhóm tuổi (≤ 2 năm tuổi, > 2 - 5 năm tuổi, > 5 - 8 năm tuổi và > 8 năm tuổi); 2 phương thức nuôi (chăn thả hoàn toàn 8 - 9 giờ/ngày vs. bán chăn thả 3 - 4 giờ/ngày kết hợp bổ sung thức ăn tại chuồng); 2 mùa vụ (vụ Đông - Xuân từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; vụ Hè - Thu từ tháng 5 đến tháng 10); 3 vùng địa hình theo độ cao (vùng núi cao 250 - 1.774 m; vùng đồi núi thấp 30 - 250 m; vùng bằng phẳng 0 - 30 m). Chương này cũng mô tả chi tiết quy trình chạy PCR khuếch đại đoạn gen 18S rRNA và ITS2, quy trình giải trình tự gen tự động, quy trình làm tiêu bản tổ chức học nhuộm HE, phương pháp xét nghiệm sinh lý - sinh hóa máu, và sơ đồ bố trí các lô thí nghiệm thử nghiệm thuốc tẩy praziquantel, albendazole, nitroxynil cùng 3 chế phẩm ủ phân vi sinh (EMUNIV, EMIC, EMZEO).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 là phần thực nghiệm trọng tâm, thể hiện đầy đủ các số liệu khảo sát và can thiệp thực địa:

  • Đặc điểm nhiễm sán lá đường tiêu hóa chung: Phân tích 1.750 mẫu phân cho thấy trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang nhiễm các loài sán lá đường tiêu hóa gồm sán lá gan Fasciola spp., sán lá dạ cỏ Paramphistomum spp. và sán lá tuyến tụy Eurytrema spp. Tỷ lệ nhiễm có sự khác biệt rõ rệt giữa các địa phương, tăng dần theo lứa tuổi gia súc (cao nhất ở nhóm trên 8 năm tuổi), biến động theo mùa vụ (cao hơn trong mùa mưa Hè - Thu), phụ thuộc phương thức chăn nuôi (nhóm chăn thả hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm cao hơn đáng kể so với bán chăn thả) và địa hình (vùng đồi núi thấp và núi cao có tỷ lệ nhiễm cao hơn vùng bằng phẳng).
  • Kết quả định danh loài sán lá tuyến tụy: Qua mổ khám 300 trâu, bò, tác giả thu thập mẫu sán lá tại tuyến tụy và định danh hình thái, đo đạc kích thước chi tiết kết hợp kính hiển vi điện tử quét FE-SEM. Kết quả xác định được 2 loài sán lá tuyến tụy ký sinh ở trâu, bò tại Tuyên Quang là Eurytrema cladorchis và Eurytrema coelomaticum. Phân tích sinh học phân tử qua phản ứng PCR đoạn gen 18S rRNA và đoạn gen ITS2, kết hợp giải trình tự và xây dựng cây phát sinh loài bằng phương pháp Maximum Likelihood, đã khẳng định tính đồng nhất và vị trí phân loại chính xác của 2 loài này.
  • Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá tuyến tụy: Kết quả xét nghiệm phân và mổ khám xác định cụ thể tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm (EPG) của sán lá tuyến tụy Eurytrema spp. theo từng huyện, nhóm tuổi, mùa vụ và phương thức nuôi. Đồng thời, nghiên cứu đã điều tra thành phần loài, tần suất xuất hiện của ốc cạn (vật chủ trung gian thứ nhất, họ Bradybaenidae) và các loài châu chấu (vật chủ trung gian thứ hai, giống Conocephalus) thu thập tại các bãi chăn thả ở địa phương.
  • Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng: Đàn trâu, bò mắc sán lá tuyến tụy biểu hiện hội chứng mạn tính với triệu chứng gầy còm, suy nhược, xù lông, tiêu chảy kèm phân nhầy, phù thũng cục bộ. Bệnh tích đại thể cho thấy tuyến tụy bị sưng to ở giai đoạn đầu, sau đó teo cứng, bề mặt nhạt màu, xơ hóa nhu mô, ống tụy giãn rộng và chứa nhiều sán trưởng thành gây tắc nghẽn cục bộ. Tiêu bản vi thể nhuộm HE ghi nhận tổn thương thoái hóa hoại tử tế bào tuyến ngoại tiết, ống tụy viêm tăng sinh mô liên kết xơ dày đặc, xâm nhiễm tế bào viêm (bạch cầu ái toan, tế bào lympho, đại thực bào) và teo đét các đảo Langerhans. Các chỉ tiêu sinh lý máu ghi nhận sự suy giảm số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin, gia tăng tỷ lệ bạch cầu ái toan; chỉ tiêu sinh hóa máu phản ánh sự rối loạn đường huyết và thay đổi hoạt độ enzyme nội, ngoại tiết của tụy và gan.
  • Nghiên cứu biện pháp phòng trị: Thử nghiệm so sánh 3 loại thuốc tẩy sán khẳng định praziquantel có hiệu lực vượt trội đối với sán lá tuyến tụy so với albendazole và nitroxynil. Qua thử nghiệm 3 mức liều, tác giả xác định mức liều praziquantel tối ưu là 18 mg/kg thể trọng, đạt hiệu lực sạch trứng và giảm cường độ nhiễm cao ở trâu, bò. Ứng dụng thực nghiệm ủ phân bằng 3 chế phẩm sinh học (EMUNIV, EMIC, EMZEO) chứng minh khả năng tiêu diệt hoàn toàn trứng sán lá tuyến tụy trong phân sau thời gian ủ kỹ thuật. Đánh giá can thiệp sau 1 tháng và 4 tháng cho thấy tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá tuyến tụy tại các nông hộ giảm rõ rệt, khẳng định tính khả thi của quy trình phòng chống tổng hợp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã công bố những đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn sản xuất chăn nuôi thú y:

  • Về ý nghĩa khoa học: Đây là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại tỉnh Tuyên Quang cung cấp các dẫn liệu dịch tễ học toàn diện về tình hình nhiễm sán lá đường tiêu hóa trên đàn trâu, bò. Luận án đã định danh chính xác sự lưu hành của 2 loài sán lá tuyến tụy là Eurytrema cladorchis và Eurytrema coelomaticum ở trâu, bò tại địa phương bằng phương pháp tích hợp giữa hình thái học, cấu trúc siêu hiển vi (FE-SEM) và sinh học phân tử (trình tự gen 18S rRNA và ITS2, phân tích cây phả hệ Maximum Likelihood). Đồng thời, luận án đã làm sáng tỏ các biến đổi mô bệnh học đại thể, vi thể tại tuyến tụy, các chỉ số huyết học - sinh hóa máu, và định dạng các nhóm vật chủ trung gian tự nhiên (ốc cạn và châu chấu) tham gia vào chu kỳ truyền lây của sán lá tuyến tụy tại Tuyên Quang.
  • Về ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đã thử nghiệm, lựa chọn và xác định được thuốc praziquantel ở liều lượng 18 mg/kg thể trọng có hiệu lực tẩy trừ sán lá tuyến tụy cao cho trâu, bò, khắc phục tình trạng sử dụng thuốc kém hiệu quả trong thực tế. Đề tài cũng đã chứng minh hiệu quả diệt trừ trứng sán lá tuyến tụy trong chất thải chăn nuôi thông qua việc ứng dụng các chế phẩm sinh học (EMUNIV, EMIC, EMZEO) để ủ phân. Từ đó, tác giả đã xây dựng và đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh sán lá tuyến tụy (kết hợp tẩy định kỳ bằng praziquantel, cải thiện chế độ chăn thả và xử lý sinh học phân gia súc), giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả chăn nuôi trâu bò tại địa phương.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, tác giả khuyến nghị các cơ quan chuyên môn và người chăn nuôi tại tỉnh Tuyên Quang:

  • Áp dụng định kỳ biện pháp tẩy sán lá tuyến tụy cho trâu, bò bằng praziquantel liều 18 mg/kg thể trọng (2 lần/năm vào các thời điểm giao mùa).
  • Chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ chăn thả tự do sang bán chăn thả có kiểm soát bãi chăn, khơi thông các vùng nước ứ đọng để hạn chế sự phát triển của quần thể ốc cạn và châu chấu.
  • Thực hiện nghiêm ngặt việc thu gom phân trâu, bò và áp dụng kỹ thuật ủ phân kỵ khí phối trộn chế phẩm sinh học vi sinh để tiêu diệt triệt để trứng sán lá trước khi sử dụng bón cho đồng cỏ hoặc cây trồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn về địa bàn nghiên cứu, các số liệu dịch tễ học và thực nghiệm can thiệp của luận án mới chỉ được thực hiện tại 5 huyện, thành phố thuộc tỉnh Tuyên Quang, chưa mở rộng ra toàn bộ các huyện vùng cao còn lại của tỉnh cũng như các tỉnh lân cận thuộc vùng núi phía Bắc. Ngoài ra, việc xác định các loài vật chủ trung gian tự nhiên chủ yếu dựa trên thu thập mẫu thực địa kết hợp đối chiếu tài liệu tham chiếu phân loại, chưa tiến hành gây nhiễm thực nghiệm chu kỳ hoàn chỉnh từ ốc sang châu chấu và ngược lại trong điều kiện phòng thí nghiệm tiêu chuẩn.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các định hướng cần mở rộng bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ học phân tử của giống Eurytrema trên các loài gia súc nhai lại khác (dê, cừu) và kiểm tra khả năng lưu hành mầm bệnh trong cộng đồng dân cư tại các vùng chăn nuôi trọng điểm.
  • Tiến hành các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế đáp ứng miễn dịch tế bào và độc lực phân tử của từng loài Eurytrema cladorchis và Eurytrema coelomaticum trên vật chủ.
  • Nghiên cứu phát triển các dạng bào chế thuốc thú y phóng thích chậm hoặc kết hợp hoạt chất nhằm tối ưu hóa chi phí điều trị và kiểm soát ký sinh trùng trên quy mô trang trại lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Thú y, Ký sinh trùng học, Bệnh học động vật và Sinh học: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang chuẩn mực, phương pháp mổ khám định loại giun sán và kỹ thuật kết hợp giữa hình thái học hiển vi điện tử quét với sinh học phân tử (giải trình tự gen 18S rRNA và ITS2).
  • Giảng viên và nghiên cứu viên tại các viện nghiên cứu, trường đại học khối Nông - Lâm - Y - Sinh học: Dữ liệu của luận án là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phân loại học ký sinh trùng đường tiêu hóa và bệnh học chuyên biệt ở tuyến tụy gia súc.
  • Cán bộ kỹ thuật thú y, cơ quan quản lý dịch bệnh động vật (Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản) và người chăn nuôi gia súc: Phác đồ tẩy sán lá tuyến tụy bằng praziquantel liều 18 mg/kg thể trọng và quy trình ủ phân bằng chế phẩm sinh học EMUNIV, EMIC, EMZEO là những giải pháp kỹ thuật cụ thể có thể chuyển giao trực tiếp vào thực tiễn sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã xác định được những loài sán lá tuyến tụy nào ký sinh trên đàn trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang và bằng phương pháp nào?
Luận án đã phát hiện và định danh được 2 loài sán lá tuyến tụy ký sinh ở trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang là Eurytrema cladorchis và Eurytrema coelomaticum. Việc định danh được thực hiện bằng sự kết hợp giữa đo đạc hình thái học dưới kính hiển vi quang học, quan sát siêu cấu trúc bề mặt qua kính hiển vi điện tử quét FE-SEM (S-4800) và kỹ thuật sinh học phân tử (khuếch đại PCR, giải trình tự đoạn gen 18S rRNA và ITS2, xây dựng cây phát sinh loài Maximum Likelihood).

2. Vòng đời sinh học của sán lá tuyến tụy Eurytrema spp. cần những nhóm vật chủ nào để hoàn thành?
Theo tổng quan và kết quả của luận án, vòng đời sinh học của Eurytrema spp. trải qua ba nhóm vật chủ: vật chủ cuối cùng là động vật có vú nhai lại (trâu, bò, dê, cừu...); vật chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc cạn (chủ yếu thuộc họ Bradybaenidae, tiêu biểu như Bradybaena similaris); và vật chủ trung gian thứ hai là các loài châu chấu cánh thẳng (chủ yếu thuộc giống Conocephalus). Gia súc bị nhiễm khi ăn phải cỏ hoặc uống nước có chứa châu chấu mang nang ấu (Metacercaria).

3. Quy mô thu thập mẫu phân và số lượng gia súc mổ khám thực tế trong luận án là bao nhiêu?
Tác giả đã thu thập tổng cộng 1.750 mẫu phân trâu, bò tại 5 địa phương (huyện Chiêm Hóa: 280 trâu/70 bò; Hàm Yên: 260 trâu/90 bò; Yên Sơn: 240 trâu/110 bò; Sơn Dương: 225 trâu/125 bò; TP. Tuyên Quang: 255 trâu/95 bò; tổng số gồm 1.260 mẫu phân trâu và 490 mẫu phân bò). Đồng thời, tác giả đã mổ khám kiểm tra tuyến tụy của 300 con trâu, bò tại các lò mổ (150 trâu và 150 bò, phân đều 30 trâu và 30 bò cho mỗi địa phương).

4. Luận án đã thử nghiệm và đề xuất loại thuốc cùng liều lượng nào có hiệu lực tẩy trừ sán lá tuyến tụy tốt nhất cho trâu, bò?
Qua thử nghiệm so sánh 3 loại thuốc (albendazole, praziquantel và nitroxynil), luận án xác định thuốc praziquantel có hiệu lực tẩy sán lá tuyến tụy vượt trội. Mức liều tối ưu được xác định và khuyến nghị sử dụng trong thực tiễn chăn nuôi là 18 mg praziquantel/kg thể trọng, giúp làm sạch trứng sán trong phân và đạt hiệu quả điều trị cao.

5. Tuyến tụy của trâu, bò mắc sán lá Eurytrema spp. có những biến đổi bệnh lý đặc trưng nào?
Về đại thể, tuyến tụy gia súc bệnh bị xơ cứng, nhạt màu, teo nhỏ nhu mô ở thể mạn tính, các ống dẫn tụy giãn to và bị tắc nghẽn do chứa nhiều sán lá. Về vi thể, quan sát thấy hiện tượng viêm ống tụy mạn tính, tăng sinh mô liên kết xơ hóa thay thế tổ chức tụy ngoại tiết, các đảo tụy Langerhans bị teo đét, cùng sự thâm nhiễm của nhiều tế bào viêm gồm bạch cầu ái toan, tế bào lympho và đại thực bào.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Nhật Thắng là công trình nghiên cứu toàn diện về ký sinh trùng thú y, giải quyết trọn vẹn tình hình nhiễm sán lá đường tiêu hóa và bệnh do sán lá tuyến tụy Eurytrema spp. gây ra ở đàn trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa dịch tễ học thực địa, hình thái siêu cấu trúc, sinh học phân tử và bệnh học lâm sàng, tác giả đã định danh chính xác 2 loài sán lá tuyến tụy (E. cladorchis và E. coelomaticum), làm rõ các quy luật lây truyền và biến đổi mô bệnh học. Kết quả xác định phác đồ điều trị bằng praziquantel liều 18 mg/kg thể trọng kết hợp quy trình ủ phân vi sinh diệt trứng sán đã cung cấp giải pháp kỹ thuật hữu ích, góp phần khống chế dịch bệnh và nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia súc nhai lại tại địa phương.