Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Mã là mạch nguồn thủy văn huyết mạch của tỉnh Thanh Hóa với lượng mưa bình quân hàng năm đạt 19 tỷ m³, sản sinh 9,7 tỷ m³ dòng chảy mặt và đổ ra biển Đông khoảng 20 tỷ m³ nước mỗi năm. Với chiều dài 512 km, trong đó có 242 km chảy qua địa bàn tỉnh và diện tích lưu vực nội tỉnh xấp xỉ 9.000 km², dòng sông gánh vác vai trò trọng yếu trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước, cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho cộng đồng hơn 3,65 triệu dân cư. Nhằm cụ thể hóa mục tiêu quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh đến năm 2030, hướng đến việc bảo đảm nguồn cấp nước sinh hoạt đạt 180 triệu m³/năm và cấp nước cho công nghiệp đạt 169 triệu m³/năm, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hệ thống hiện trạng và diễn biến chất lượng nước sông Mã trong chu kỳ 2 năm 2023 – 2024.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu tập trung vào sự suy giảm chất lượng nước mặt trước áp lực gia tăng từ quá trình đô thị hóa với tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 11,25% năm 2024, cùng với sự hiện diện của các khu công nghiệp, làng nghề và hoạt động nông nghiệp dọc hành lang sông. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát, phân tích chuỗi số liệu 10 thông số lý hóa và sinh học tại 9 vị trí quan trắc dọc tuyến sông, nhận diện chính xác các nguồn thải trọng điểm, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và cơ chế quản lý khả thi. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập cơ sở dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy, hỗ trợ các cơ quan quản lý nâng cao hiệu lực kiểm soát môi trường và hạn chế tối đa nguy cơ cạn kiệt, suy thoái tài nguyên nước mặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tải lượng môi trường và khả năng tự làm sạch của nguồn nước tự nhiên theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 (khoản 1 và khoản 12 Điều 3) cùng Luật Tài nguyên nước năm 2023 (Điều 2). Các khái niệm khoa học trọng tâm bao gồm: môi trường nước mặt, ô nhiễm nguồn nước, suy thoái nguồn nước và chỉ thị môi trường. Về mặt động học chất ô nhiễm, đề tài vận dụng nguyên lý cân bằng vật chất kết hợp các mô hình phân hủy sinh hóa oxy (BOD - DO) tương tự như mô hình chất lượng nước cơ bản Qual2K và Mike 11, giải thích cơ chế suy giảm oxy hòa tan dưới tác động của các hợp chất cacbon hữu cơ và phản ứng nitrat hóa.

Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2023/BTNMT về chất lượng nước mặt đóng vai trò là thước đo đối sánh pháp lý cốt lõi, trong đó phân định rõ giới hạn thông số giữa cột A (mục đích cấp nước sinh hoạt) và cột B (mục đích khác). Ngoài ra, nghiên cứu còn tích hợp tiêu chuẩn thiết kế thoát nước TCVN 7957:2023 để xác định định mức phát thải ô nhiễm theo đầu người, cụ thể tải lượng chất rắn lơ lửng từ 60 đến 65 g/người/ngày và tải lượng BOD₅ trong nước thải chưa lắng từ 55 đến 60 g/người/ngày, làm cơ sở tính toán tác động của nước thải sinh hoạt đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp chọn mẫu vị trí đại diện có chủ đích (purposive sampling) dọc theo tuyến dòng chảy chính và các điểm tiếp nhận nguồn thải đặc thù. Cỡ mẫu thực nghiệm bao gồm 108 mẫu nước mặt độc lập, được thu thập định kỳ 2 tháng/lần (tương ứng 6 đợt quan trắc mỗi năm) liên tục trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 12 năm 2024. Hệ thống 09 trạm quan trắc trải dài 242 km qua các vùng địa lý khác nhau: từ vùng núi thượng lưu như Mường Lát (NM1), Quan Hóa (NM2), Bá Thước (NM3); qua khu vực trung lưu bán sơn địa như Cẩm Thủy (NM4), Yên Định (NM5), Thiệu Hóa (NM6); đến vùng hạ lưu đồng bằng ven biển gồm Cảng Lễ Môn (NM7), Sông Gòong (NM8) và hợp lưu sông Đơ tại Sầm Sơn (NM9).

Quy trình lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển được kiểm soát nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn TCVN 6663-3:2016 (ISO 5667-3:2012) và TCVN 6663-6:2018, bảo đảm nhiệt độ mẫu luôn duy trì ổn định ở 4°C trong thùng đá chuyên dụng trước khi chuyển giao về phòng thí nghiệm của Trung tâm Quan trắc Môi trường và Địa chất Thanh Hóa. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm được chuẩn hóa qua các tiêu chuẩn quốc gia: đo pH bằng TCVN 6492:2011; xác định COD bằng TCVN 6491:1999; đo BOD₅ bằng phương pháp không pha loãng theo TCVN 6001-2:2008; xác định chất rắn lơ lửng (TSS) bằng màng lọc sợi thủy tinh theo TCVN 6625:2000; đo DO bằng đầu dò điện hóa theo TCVN 7325:2016; phân tích Amoni (NH₄⁺) theo TCVN 6179-1:1996; xác định Nitrat (NO₃⁻) theo TCVN 6624:2-2000; phân tích sắt tổng (Fe) theo TCVN 6665:2011 và đếm khuẩn Coliform tổng số bằng kỹ thuật đa ống theo TCVN 6187-2:2020. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính pháp lý cao nhất của số liệu phân tích, giảm thiểu sai số ngoại cảnh và cung cấp đầy đủ thông số đầu vào phục vụ đánh giá rủi ro ô nhiễm nước mặt theo quy định hiện hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích từ chuỗi số liệu quan trắc giai đoạn 2023 – 2024 đã chỉ ra nhiều biến động bất thường về mặt không gian và thời gian của các thông số môi trường nước sông Mã:

Thứ nhất, ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng tăng cao đột biến ở khu vực hạ lưu. Thông số BOD₅ tại trạm NM8 (Sông Gòong) đạt đỉnh 22,4 mg/L vào đợt 4 năm 2023 và 18,4 mg/L vào đợt 1 năm 2024, vượt chuẩn B (≤ 6 mg/L) hơn 3,0 đến 3,7 lần và vượt chuẩn A (≤ 4 mg/L) tới 5,6 lần. Đi cùng với đó, nồng độ COD tại NM8 đợt 4 năm 2024 lên tới 33,3 mg/L, vượt 2,2 lần ngưỡng chuẩn B (≤ 15 mg/L). Chỉ tiêu Amoni (NH₄⁺) tại NM8 và NM9 thường xuyên vượt chuẩn B (≤ 0,9 mg/L), điển hình đợt 4 năm 2023 tại NM8 đạt 4,17 mg/L (vượt 4,6 lần) và đợt 1 năm 2024 đạt 3,98 mg/L (vượt 4,4 lần). Hàm lượng Nitrat (NO₃⁻) tại NM8 đợt 1 năm 2023 chạm ngưỡng 15,4 mg/L, gấp 10,2 lần giới hạn cho phép cột B (≤ 1,5 mg/L).

Thứ hai, bùng phát ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng tại vùng cửa sông và đô thị. Nồng độ Coliform tổng số tại trạm NM9 (hợp lưu sông Đơ - sông Mã) đợt 4 năm 2023 tăng vọt lên mức 790.000 MPN/100 mL, vượt tới 158 lần giới hạn tối đa của chuẩn B (≤ 5.000 MPN/100 mL). Tại NM8, giá trị Coliform đạt 79.000 MPN/100 mL vào đợt 3 năm 2023, cao gấp 15,8 lần chuẩn B.

Thứ ba, hiện tượng vượt chuẩn sắt tổng (Fe) và chất rắn lơ lửng (TSS) tập trung tại thượng nguồn miền núi. Trạm NM2 (Cầu Na Sài) ghi nhận giá trị Fe cao nhất toàn đợt nghiên cứu với 15,6 mg/L vào đợt 3 năm 2024, gấp 15,6 lần giới hạn cột A (1,0 mg/L) và 10,4 lần giới hạn cột B (1,5 mg/L). Tương tự, trạm NM1 (Cầu Bản Lát) ghi nhận Fe đạt 14,1 mg/L. Nồng độ TSS tại NM1 đợt 3 năm 2024 cũng tăng vọt lên 213,6 mg/L, vượt hơn 2,1 lần giới hạn cột B (≤ 100 mg/L) và hơn 8,5 lần giới hạn cột A (≤ 25 mg/L).

Thứ tư, chỉ số pH và DO nhìn chung duy trì độ ổn định tương đối dọc theo tuyến dòng chảy chính. Giá trị pH nằm trong khoảng 6,29 đến 7,60, hầu hết đạt chuẩn cột A (6,5 – 8,5). Nồng độ oxy hòa tan (DO) tại vùng thượng lưu duy trì ở mức cao từ 6,2 đến 6,6 mg/L, tuy nhiên tại NM8 và NM9 đã ghi nhận sự suy giảm cục bộ rõ rệt xuống còn 3,50 mg/L (NM9 đợt 3 năm 2023) và 3,90 mg/L (NM8 đợt 4 năm 2024), thấp hơn nhiều so với yêu cầu chuẩn B (≥ 5,0 mg/L).

Thảo luận kết quả

Diễn biến không gian và thời gian của các thông số ô nhiễm có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ biến thiên dạng đường và các bảng ma trận số liệu quan trắc. Biểu đồ đường thể hiện chỉ số BOD₅, COD và NH₄⁺ cho thấy xu hướng tăng dần theo chiều dọc dòng sông, tạo thành một đường dốc đi lên sắc nét từ thượng nguồn (NM1) hướng về hạ nguồn (NM8, NM9). Ngược lại, đồ thị biểu diễn hàm lượng Fe và TSS lại xuất hiện các đỉnh sóng cục bộ đột biến ở vùng núi phía Tây.

Nguyên nhân sâu xa của sự phân hóa chất lượng nước bắt nguồn từ các hoạt động nhân sinh kết hợp yếu tố thủy văn theo mùa. Vùng hạ lưu (NM7, NM8, NM9) là nơi tập trung dân cư đô thị đông đúc của thành phố Thanh Hóa và thành phố Sầm Sơn, nơi 28,1% dân số đô thị và hàng triệu lượt khách du lịch xả thải khối lượng lớn nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý triệt để ra môi trường. Bên cạnh đó, vùng ven sông tiếp nhận trực tiếp nước thải từ các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; đơn cử như trên địa bàn tỉnh hiện có 22 cơ sở sản xuất giấy, vàng mã và bột giấy, 8 cơ sở bao bì và 4 cơ sở tinh bột sắn. Trong đó, doanh nghiệp như Công ty Tân Thái Thanh xả thải trung bình khoảng 109.000 m³/năm. Tải lượng hữu cơ và dinh dưỡng từ nước thải kết hợp với phân bón nông nghiệp đã đẩy nhanh quá trình tiêu thụ oxy hòa tan, gây phú dưỡng hóa nguồn nước hạ lưu.

Trái lại, tại khu vực thượng lưu (NM1, NM2), sự gia tăng đột biến của Fe và TSS vào mùa mưa lũ bắt nguồn từ hiện tượng xói mòn rửa trôi đất đá giàu khoáng vật quặng sắt trên lưu vực vùng đồi núi, kết hợp với các hoạt động khai thác cát sỏi, khoáng sản và làm đường giao thông ven sông. Vào mùa khô (đợt 1 và đợt 2), lưu lượng dòng chảy sông Mã suy giảm làm giảm khả năng pha loãng tự nhiên, khiến nồng độ nitrat và amoni ở hạ lưu tăng cao đáng kể, gây áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái thủy vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi và kiểm soát bền vững chất lượng nước mặt sông Mã, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2025 – 2030:

Thứ nhất, kiểm soát nghiêm ngặt và xử lý triệt để nước thải công nghiệp. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa chủ trì phối hợp cùng Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tổ chức rà soát toàn diện 22 cơ sở sản xuất bột giấy, vàng mã và 4 cơ sở chế biến tinh bột sắn ven sông Mã. Buộc 100% doanh nghiệp này phải đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cột A theo QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra lưu vực, đặt mốc thời gian hoàn tất trước ngày 31 tháng 12 năm 2026; kiên quyết đình chỉ vận hành đối với các đơn vị tái phạm hành vi xả thải lén lút.

Thứ hai, đầu tư hoàn thiện mạng lưới thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa và thành phố Sầm Sơn ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2025 – 2028 xây dựng hệ thống tách gom nước thải riêng biệt tại các khu vực ven sông Gòong, sông Đơ và Cảng Lễ Môn. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị đạt tối thiểu 70% vào năm 2028, nhằm cắt giảm từ 35% đến 40% tải lượng hữu cơ BOD₅ và vi khuẩn Coliform xả vào dòng chính.

Thứ ba, thiết lập hệ thống quan trắc tự động và ứng dụng mô hình quản lý hiện đại. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ triển khai lắp đặt 05 trạm quan trắc nước mặt tự động, liên tục truyền dữ liệu trực tuyến tại các vị trí xung yếu (NM2, NM4, NM7, NM8, NM9) trong giai đoạn 2025 – 2027. Đồng thời, ứng dụng các bộ công cụ mô hình hóa như Qual2K và Mike 11 để mô phỏng tải lượng ô nhiễm, dự báo kịp thời các sự cố môi trường và hỗ trợ ra quyết định điều tiết nước từ các hồ chứa thủy điện thượng nguồn trong mùa cạn.

Thứ tư, chuẩn hóa hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi nông hộ và trang trại. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Thanh Hóa thực hiện chương trình hỗ trợ kỹ thuật và kiểm tra, nâng tỷ lệ cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm có công trình khí sinh học (biogas) và hồ sinh học đạt quy chuẩn kỹ thuật từ mức 45% hiện nay lên trên 85% vào năm 2027, giảm thiểu triệt để nguồn phát tán vi sinh vật gây bệnh và hàm lượng dinh dưỡng dư thừa vào hệ thống sông ngòi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

Một là, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và quy hoạch (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Thanh Hóa). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học định lượng giúp các đơn vị này xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn nước mặt, xác định hạn ngạch xả thải, cấp giấy phép môi trường và lập phương án khoanh vùng bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt 180 triệu m³/năm cho toàn tỉnh đến năm 2030.

Hai là, các doanh nghiệp chế biến công nghiệp, hợp tác xã sản xuất lâm sản, giấy và các trang trại chăn nuôi tập trung ven sông. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng số liệu tải lượng ô nhiễm thực tế (BOD₅, COD, TSS) để tính toán công suất thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý nước thải phù hợp và chủ động phòng ngừa các chế tài xử phạt hành chính về môi trường.

Ba là, các trường đại học, viện nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước và Kỹ thuật Môi trường. Bộ dữ liệu gồm 108 mẫu quan trắc với 10 thông số phân tích độc lập là nguồn tài liệu tham khảo quý giá phục vụ nghiên cứu diễn biến chất lượng nước mặt, kiểm chứng các mô hình lan truyền chất ô nhiễm và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trên lưu vực sông.

Bốn là, các tổ chức xã hội, mạng lưới sông ngòi và cộng đồng dân cư sinh sống dọc lưu vực sông Mã. Tài liệu giúp nâng cao nhận thức cộng đồng, tạo cơ sở để người dân giám sát các hành vi gây ô nhiễm, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của xã hội vào công tác bảo vệ nguồn nước sạch và phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Chất lượng nước sông Mã đoạn chảy qua Thanh Hóa hiện có đủ điều kiện để khai thác cấp nước sinh hoạt trực tiếp không? Dựa trên kết quả quan trắc 2023 – 2024, chất lượng nước tại khu vực thượng lưu và trung lưu nhìn chung cơ bản đáp ứng chuẩn A của QCVN 08:2023/BTNMT cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý thông thường. Tuy nhiên, tại khu vực hạ lưu (trạm NM8, NM9), nước sông bị ô nhiễm hữu cơ, amoni và vi sinh nặng nề, không đủ điều kiện cấp nước sinh hoạt trực tiếp mà đòi hỏi phải có công nghệ xử lý chuyên sâu.

Những vị trí nào trên sông Mã ghi nhận mức độ ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật nghiêm trọng nhất? Trạm NM8 (Sông Gòong) và trạm NM9 (hợp lưu sông Đơ – sông Mã) tại vùng hạ lưu là hai "điểm nóng" ô nhiễm lớn nhất toàn lưu vực. Nồng độ BOD₅ tại NM8 từng đạt 22,4 mg/L (vượt 5,6 lần chuẩn A), Amoni đạt 4,17 mg/L (vượt 4,6 lần chuẩn B) và chỉ số Coliform tại NM9 từng bùng phát lên đến 790.000 MPN/100 mL, vượt tới 158 lần ngưỡng cho phép cột B.

Vì sao nồng độ sắt (Fe) và chất rắn lơ lửng (TSS) lại tăng cao đột biến tại khu vực thượng nguồn miền núi? Hiện tượng sắt (Fe) đạt đỉnh 15,6 mg/L tại NM2 và TSS đạt 213,6 mg/L tại NM1 vào đợt 3 năm 2024 chủ yếu do tác động của thiên tai mưa lũ. Dòng chảy xiết đã bóc mòn và rửa trôi mạnh mẽ lớp đất đá chứa khoáng sản sắt từ vùng đồi núi Mường Lát, Quan Hóa kết hợp hoạt động nạo vét lòng sông và khai thác cát sỏi ven bờ.

Nguồn thải nào đóng vai trò tác nhân chính gây suy giảm chất lượng nước sông Mã trong giai đoạn 2023 – 2024? Nguồn thải sinh hoạt từ 3,65 triệu dân cư địa phương (với 71,9% dân số nông thôn thiếu hệ thống xử lý tập trung) là tác nhân diện rộng hàng đầu. Kế tiếp là nước thải từ 22 cơ sở sản xuất bột giấy, giấy vàng mã và 4 nhà máy chế biến tinh bột sắn xả trực tiếp, cùng với lượng phát thải lớn từ hoạt động chăn nuôi gia súc có tốc độ tăng trưởng 6,7% mỗi năm.

Việc ứng dụng mô hình toán học như Qual2K hay Mike 11 mang lại lợi ích gì trong quản lý môi trường lưu vực sông? Các mô hình số hóa cho phép mô phỏng chi tiết quá trình lan truyền các chất ô nhiễm, tính toán chính xác khả năng tự làm sạch và sức chịu tải của từng đoạn sông. Điều này giúp các cơ quan quản lý dự báo sớm nguy cơ thiếu hụt oxy hòa tan (khi DO giảm dưới 4,0 mg/L), hỗ trợ cấp phép xả thải khoa học và xây dựng kịch bản ứng phó sự cố môi trường kịp thời.

Kết luận

  • Công trình đã hoàn thành đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt sông Mã đoạn qua tỉnh Thanh Hóa thông qua 108 mẫu nước thực nghiệm tại 09 trạm quan trắc tiêu biểu trong giai đoạn 2023 – 2024 với 10 thông số lý hóa và sinh học chuẩn mực.
  • Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự phân hóa không gian sâu sắc: vùng thượng nguồn chịu ảnh hưởng cục bộ bởi chất rắn lơ lửng và sắt tổng do mưa lũ rửa trôi, trong khi vùng hạ lưu (NM8, NM9) chịu áp lực ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh nghiêm trọng với Coliform vượt tới 158 lần chuẩn B.
  • Luận văn đã định lượng và chỉ rõ 3 nguồn phát thải chính gây áp lực lên lưu vực: nước thải sinh hoạt đô thị, nước thải công nghiệp từ 22 cơ sở sản xuất giấy ven sông và chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý chuẩn hóa.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất bao gồm: thanh tra xử lý 100% cơ sở công nghiệp đạt QCVN 40:2011/BTNMT trước năm 2026, nâng tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt đô thị lên 70% vào năm 2028, thiết lập 05 trạm quan trắc tự động và ứng dụng mô hình số hóa chất lượng nước.
  • Lộ trình hành động giai đoạn 2025 – 2030 hướng đến mục tiêu kéo giảm từ 35% đến 40% tải lượng ô nhiễm hữu cơ trên toàn tuyến sông Mã, bảo đảm an ninh tài nguyên nước bền vững cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.