Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự phát triển và lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa của việt nam

Nghiên cứu xu hướng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. Phân tích tác động đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giải pháp và chiến lược phù hợp.

Trường đại học

Hội Đồng Lý Luận Trung Ương

Chuyên ngành

Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu

2005

460
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

Danh mục các từ viết tắt

Lời mở đầu

1. Phần thứ nhất: Kinh tế tri thức – Xu hướng phát triển của thời đại: Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1. Kinh tế tri thức: vai trò, những khái niệm cơ bản

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1. Tri thức và vai trò của tri thức đối với phát triển
1.1.1.2. Khái niệm về nền kinh tế tri thức

1.1.2. Sự xuất hiện của kinh tế tri thức – hệ quả tất yếu của tiến trình lịch sử tự nhiên của nhân loại

1.1.2.1. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại - đặc điểm và vai trò của nó đối với kinh tế tri thức
1.1.2.2. Kinh tế thị trường là động lực mạnh mẽ đẩy nhanh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, và do đó thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức toàn cầu
1.1.2.3. Sự phát triển kinh tế thị trường và thương mại thế giới đi liền với cách mạng khoa học – công nghệ thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức toàn cầu

1.1.3. Đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức

1.1.3.1. Tri thức trở thành yếu tố chủ yếu nhất của nền kinh tế
1.1.3.2. Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển đổi ngày càng nhanh theo hướng tăng nhanh giá trị gia tăng
1.1.3.3. Tốc độ đổi mới nhanh, sản xuất công nghệ trở thành ngành sản xuất đặc biệt quan trọng
1.1.3.4. Công nghệ thông tin và viễn thông được ứng dụng rộng rãi và ngày càng sâu trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội
1.1.3.5. Đặc tính, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức thay đổi căn bản

1.1.4. Các chỉ số nhận biết xu thế, đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế tri thức

1.1.4.1. Các chỉ số đánh giá theo đề xuất của OECD
1.1.4.2. Các chỉ số đánh giá theo kiến nghị của APEC
1.1.4.3. Phương pháp đánh giá của Ngân hàng Thế giới
1.1.4.4. Phương pháp đánh giá của Mỹ

1.1.5. Động lực cho sự phát triển kinh tế tri thức

1.1.5.1. Bốn động lực chính rút ra từ kinh nghiệm của các nước đi trước
1.1.5.2. Động lực của kinh tế tri thức theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới
1.1.5.3. Động lực của kinh tế tri thức theo cách tiếp cận của OECD
1.1.5.4. Các nước đang phát triển có thể rút ra được gì ?

1.2. Xu thế tác động của kinh tế tri thức – với tính cách là lực lượng sản xuất mới đến các lĩnh vực chủ yếu của thế giới ngày nay

1.2.1. Tác động của kinh tế tri thức đến cơ cấu lao động xã hội, sự phát triển nhanh của công nhân tri thức

1.2.2. Tác động của kinh tế tri thức đến văn hoá

1.2.3. Tác động của kinh tế tri thức đến quan hệ sản xuất

1.2.4. Nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá đang khơi sâu các mâu thuẫn của thời đại

1.2.5. Kinh tế tri thức và tư duy mới về sự phát triển

1.2.6. Kinh tế tri thức và khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước đang phát triển

1.3. Xu thế chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức

1.3.1. Sự chuyển biến sang nền kinh tế tri thức – một xu hướng lớn mang tính phổ biến đối với các nước

1.3.2. Dự báo khái quát về xu thế phát triển của kinh tế tri thức trong giai đoạn sắp tới

1.3.3. Thời cơ, thuận lợi và khó khăn đặt ra cho các nước đang phát triển trong quá trình tiếp cận và chuyển sang kinh tế tri thức

1.4. Kinh nghiệm của một số nước trong quá trình hình thành, phát triển kinh tế tri thức và bài học đối với Việt Nam

1.4.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế tri thức trên thế giới những năm gần đây

1.4.2. Tổng kết bước đầu về kinh nghiệm của một số nước trong quá trình phát triển kinh tế tri thức

1.4.2.1. Kinh nghiệm của Mỹ về tạo lập thể chế để đạt được tính đổi mới cao
1.4.2.2. Kinh nghiệm của các nước Bắc Âu về tạo môi trường phát triển kinh tế tri thức
1.4.2.3. Kinh nghiệm của Singapore về phát huy lợi thế để bắt kịp tốc độ phát triển của kinh tế tri thức toàn cầu
1.4.2.4. Kinh nghiệm của Hàn Quốc : đi thẳng vào hiện đại ở những ngành, lĩnh vực xung yếu và tạo đòn bẩy mạnh để phát triển kinh tế tri thức
1.4.2.5. Kinh nghiệm của Malaysia : có chiến lược đồng bộ và phát huy tốt vai trò của khu vực tư nhân
1.4.2.6. Kinh nghiệm của các nước châu Mỹ La-tinh : quyết tâm vượt qua khó khăn để tạo nền móng cho kinh tế tri thức
1.4.2.7. Kinh nghiệm vươn lên nhanh của Trung Quốc và Ấn Độ

1.4.3. Năm bài học rút ra cho Việt Nam và các nước đi sau

2. Phần thứ hai: Hội nhập xu thế phát triển kinh tế tri thức toàn cầu là đòi hỏi tất yếu đối với Việt Nam

2.1. Thực trạng kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ phát triển kinh tế tri thức

2.1.1. Phân tích thực trạng nền kinh tế trên một số tiêu chí chủ yếu

2.1.1.1. Môi trường kinh doanh, thể chế chính sách
2.1.1.2. Nguồn nhân lực
2.1.1.3. Hệ thống đổi mới quốc gia
2.1.1.4. Công nghệ thông tin và truyền thông

2.1.2. Đánh giá chung

2.2. Những nhân tố mới – phát triển dựa vào tri thức

2.2.1. Những cánh đồng thu nhập cao dựa vào tri thức

2.2.2. Những vùng đất phát triển dựa vào tri thức

2.2.3. Các khu nông nghiệp công nghệ cao

2.2.4. Những lĩnh vực phát triển nhanh dựa vào tri thức

2.2.5. Những đơn vị phát triển dựa vào tri thức

2.3. Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tất yếu phải dựa trên nền tảng tri thức

2.3.1. Khó khăn và thuận lợi đối với Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức

2.3.1.1. Những khó khăn chính phải vượt qua
2.3.1.2. Những cơ hội chủ yếu phải tận dụng có hiệu quả

2.3.2. Sự cần thiết và khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá dựa trên tri thức ở Việt Nam

3. Phần thứ ba: Quan điểm, phương hướng nhiệm vụ và giải pháp thực hiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn dựa trên tri thức ở Việt Nam

3.1. Hệ quan điểm cơ bản

3.1.1. Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thực chất là thực hiện chiến lược công nghiệp hoá rút ngắn dựa trên tri thức

3.1.2. Nước ta cần thực hiện đồng thời, lồng ghép hợp lý hai quá trình công nghiệp hoá và phát triển kinh tế tri thức

3.1.3. Là nước đi sau, Việt Nam phải kết hợp tuần tự và nhảy vọt - mô hình hai tốc độ. Đi thẳng vào hiện đại ở những khâu, những lĩnh vực, những ngành có lợi thế, phát triển các ngành, các vùng kinh tế mũi nhọn tạo thành đầu tàu có sức kéo mạnh toàn bộ nền kinh tế

3.1.4. Kết hợp truyền thống và hiện đại, phát huy năng lực nội sinh, kết hợp với các yếu tố ngoại sinh

3.1.5. Để thực hiện công nghiệp hoá dựa trên tri thức và Chiến lược phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, cần tạo ra những đột phá ở những vùng và ngành trọng điểm có sức lan toả thực sự

3.1.6. Khái quát về mô hình, con đường, bước đi

3.2. Phương hướng nhiệm vụ

3.2.1. Đổi mới tư duy phát triển tạo môi trường cho sự phát triển kinh tế tri thức

3.2.2. Chủ động, tích cực hội nhập vào xu thế phát triển kinh tế tri thức toàn cầu

3.2.3. Chuyển hướng phát triển các lĩnh vực trọng yếu sang chủ yếu dựa vào tri thức

3.2.4. Sử dụng có hiệu quả tri thức mới để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

3.2.5. Đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp và dịch vụ

3.2.6. Phát triển nhanh có chọn lọc các ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao

3.3. Các giải pháp vận dụng kinh tế tri thức để đẩy nhanh CNH, HĐH và rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến

3.3.1. Đổi mới cơ chế và chính sách, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, mở đường cho kinh tế tri thức phát triển

3.3.2. Cải cách triệt để nền giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - yếu tố quyết định sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế tri thức

3.3.3. Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu – động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế tri thức

3.3.4. Đổi mới doanh nghiệp - khâu trung tâm của đổi mới sản xuất tiến tới kinh tế tri thức

3.3.5. Phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội – mũi nhọn xung kích tiến vào kinh tế tri thức

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Kinh Tế Tri Thức Việt Nam Tổng Quan Vai Trò 55 Ký Tự

Kinh tế tri thức đã xuất hiện hơn hai thập kỷ và đang định hình lại nền kinh tế toàn cầu. Các nền kinh tế phát triển đang chuyển đổi sang kinh tế tri thức, tạo ra những thay đổi sâu sắc trong sản xuất, quản lý, cơ cấu kinh tế và lao động. Cách mạng tri thức và thông tin, hệ quả của kinh tế thị trường, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của kinh tế tri thức. Xu hướng này tác động đến tất cả các nước, đòi hỏi các nước đang phát triển cần nắm bắt cơ hội, thúc đẩy phát triển kinh tế để thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Ngày nay, khoảng cách phát triển giữa các nước, giữa các nhóm xã hội và kể cả giữa các cá nhân bên trong mỗi nước chính là do khoảng cách về tri thức.

1.1. Định Nghĩa Tri Thức và Vai Trò Trong Phát Triển Kinh Tế

Tri thức là sự hiểu biết về thế giới và khả năng ứng dụng vào thực tiễn, là sự tích lũy thông tin và kỹ năng. Dữ liệu là tín hiệu rời rạc, thông tin là dữ liệu có hệ thống. Khi thông tin được xử lý giúp con người nhận thức, hiểu biết, vận dụng vào thực tiễn và nâng cao kỹ năng, thông tin biến thành tri thức. Thông tin là tài nguyên quan trọng của xã hội. Tri thức cần được vận dụng vào thực tiễn để mang lại lợi ích cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trí thức học sách chưa phải là trí thức hoàn toàn, muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận”.

1.2. Các Loại Tri Thức Cơ Bản Cần Thiết Cho Phát Triển

Những tri thức cơ bản cần thiết bao gồm: Biết cái gì (know-what) - nhận biết sự kiện, vật thể, hiện tượng; Biết tại sao (know-why) - tri thức khoa học, hiểu biết về bản chất tự nhiên và kinh tế - xã hội; Biết làm thế nào (know-how) - kỹ năng thực hiện công việc, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Biết ai (know-who) - thông tin về người có tri thức, quan hệ xã hội, tổ chức, tiếp cận chuyên gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Trí thức là gì? Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”.

II. Thách Thức Cơ Hội Phát Triển Kinh Tế Tri Thức 57 Ký Tự

Đối với Việt Nam, kinh tế tri thức tạo ra những thách thức và cơ hội lớn để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cái thiếu nhất là cơ sở vật chất - kỹ thuật của một nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Đảng xác định nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ là phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá trong bối cảnh quốc tế ngày nay không thể rập khuôn theo mô hình cũ. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX chỉ rõ: “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”.

2.1. Tiềm Năng và Lợi Thế Của Nguồn Nhân Lực Việt Nam

Việt Nam còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam không thua kém các nước phát triển. Con người Việt Nam có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ các tri thức mới, công nghệ mới. Thực tiễn của những năm đổi mới cho thấy, trên một số lĩnh vực mới, công nghệ mới nhất đã được người Việt Nam sử dụng và theo kịp trình độ của thế giới. Nếu chỉ dựa vào tài nguyên, vốn, lao động và theo cách nghĩ cũ, bài toán rút ngắn khoảng cách phát triển sẽ không có lời giải. Tuy nhiên, vấn đề lớn là trình độ của nền kinh tế nước ta hiện tại còn rất thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, nhiều vấn đề bức xúc cần giải quyết.

2.2. Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế Tri Thức Trong Bối Cảnh Hiện Tại

Trình độ của nền kinh tế nước ta hiện tại còn rất thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, còn rất nhiều vấn đề bức xúc phải giải quyết như xoá đói giảm nghèo, thất nghiệp và thiếu việc làm, phát triển nông thôn, vùng sâu vùng xa... thì có thể phát triển kinh tế tri thức không, phát triển như thế nào và bằng cách gì? Khó khăn, thách thức đối với nước ta còn rất gay gắt. Thế giới đang phát triển ngày càng nhanh, cần phải tăng tốc, bắt kịp, không thể để vận hội lớn trôi qua. Cần đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa, trong đó vấn đề cốt lõi là phải có chiến lược, chính sách, lộ trình phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

III. Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế Tri Thức 59 Ký Tự

Trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, cần phải đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa, trong đó vấn đề cốt lõi là phải có chiến lược, chính sách, lộ trình phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức cả về lý luận và tổng kết thực tiễn, có rất nhiều tài liệu giới thiệu về mô hình, chiến lược phát triển kinh tế tri thức và kinh nghiệm của các nước. Ở trong nước, khoảng 5 năm gần đây, cũng có một số công trình về chủ đề này đã được công bố.

3.1. Nghiên Cứu và Phân Tích Kinh Nghiệm Quốc Tế Về KTTT

Cần phải có những nghiên cứu rõ ràng về bản chất của kinh tế tri thức, những đặc điểm cơ bản của nó, tác động của nó đến quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng xã hội, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đang đi vào kinh tế tri thức; phân tích thực trạng kinh tế nước ta dưới góc độ kinh tế tri thức, từ đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chính sách phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, nhằm đẩy nhanh, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

IV. Xu Hướng Tác Động Kinh Tế Tri Thức Đến Lĩnh Vực 58 Ký Tự

Kinh tế tri thức tác động sâu sắc đến cơ cấu lao động xã hội, thúc đẩy sự phát triển của công nhân tri thức. Ảnh hưởng đến văn hóa, tạo ra những thay đổi trong quan hệ sản xuất. Nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa đang làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn của thời đại. Kinh tế tri thức đòi hỏi một tư duy mới về sự phát triển. Kinh tế tri thức tạo ra khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước đang phát triển.

4.1. Ảnh Hưởng Đến Cơ Cấu Lao Động và Phát Triển Nguồn Nhân Lực

Sự phát triển của kinh tế tri thức dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu lao động, với sự gia tăng của công nhân tri thức. Điều này đòi hỏi sự đầu tư vào giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế mới.

4.2. Toàn Cầu Hóa Kinh Tế Tri Thức và Các Mâu Thuẫn Thời Đại

Toàn cầu hóa kinh tế tri thức làm gia tăng sự cạnh tranh và tạo ra những mâu thuẫn mới trong xã hội. Các nước đang phát triển cần phải có những chính sách phù hợp để đối phó với những thách thức này và tận dụng cơ hội từ kinh tế tri thức.

V. Kinh Nghiệm Phát Triển Kinh Tế Tri Thức Thế Giới 59 Ký Tự

Nhiều quốc gia đã có những thành công đáng kể trong việc phát triển kinh tế tri thức. Hoa Kỳ tập trung vào tạo lập thể chế để đạt được tính đổi mới cao. Các nước Bắc Âu tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế tri thức. Singapore phát huy lợi thế để bắt kịp tốc độ phát triển của kinh tế tri thức toàn cầu. Hàn Quốc đi thẳng vào hiện đại ở những ngành, lĩnh vực xung yếu. Malaysia có chiến lược đồng bộ và phát huy tốt vai trò của khu vực tư nhân.

5.1. Bài Học Cho Việt Nam Từ Kinh Nghiệm Các Nước

Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc xây dựng thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, và lựa chọn các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế tri thức.

VI. Rút Ngắn Công Nghiệp Hóa Nhờ Kinh Tế Tri Thức 58 Ký Tự

Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tất yếu phải dựa trên nền tảng tri thức. Mặc dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam có những cơ hội chủ yếu phải tận dụng có hiệu quả. Sự cần thiết và khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá dựa trên tri thức ở Việt Nam là hoàn toàn có thể.

6.1. Khó Khăn và Cơ Hội Cho Việt Nam Trong Phát Triển KTTT

Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế tri thức, bao gồm cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, và thể chế chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có những cơ hội lớn, bao gồm sự hỗ trợ của quốc tế, tiềm năng phát triển công nghệ thông tin, và sự sáng tạo của người dân.

6.2. Tính Tất Yếu Của Phát Triển KTTT Để Rút Ngắn Quá Trình CNH HĐH

Việt Nam cần phải đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Điều này đòi hỏi sự đầu tư vào giáo dục, khoa học và công nghệ, cũng như việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

12/05/2025
Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự phát triển và lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Lời mở đầu Kinh tế tri thức đã chính thức xuất hiện từ hơn hai thập kỷ qua. Các nền kinh tế phát triển trên thế giới đang chuyển sang kinh tế tri thức với những thay đổi sâu sắc về cách thức hoạt động sản xuất kinh doanh, cách tổ chức quản lý, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, vị trí con người trong sản xuất. Cách mạng tri thức, cách mạng thông tin với tính cách là hệ quả của kinh tế thị trường ở trình độ cao hiện đang thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ. Những xu hướng lớn có tính tất yếu này đan kết chặt chẽ với nhau và cùng với toàn cầu hoá đã, đang và sẽ tác động đến tất cả các nước, cho dù là ở những mức độ không đồng đều.

Các nước đang phát triển cần nắm lấy thời cơ, phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển. Ngày nay, khoảng cách phát triển giữa các nước, giữa các nhóm xã hội và kể cả giữa các cá nhân bên trong mỗi nước chính là do khoảng cách về tri thức. Nhiều nước đã đề ra “chiến lược đi tắt vào kinh tế tri thức”, “chiến lược công nghiệp hoá dựa vào tri thức”, “sử dụng tri thức cho phát triển”,. Đối với Việt Nam, kinh tế tri thức tất yếu sẽ có những tác động ngày càng mạnh, làm nảy sinh những thách thức rất gay gắt, nhưng cũng tạo ra những cơ hội to lớn để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cái thiếu nhất đối với nước ta là cơ sở vật chất - kỹ thuật của một nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Vì vậy, Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ là phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá trong bối cảnh quốc tế ngày nay không thể rập khuôn theo mô hình công nghiệp hoá của các nước đã đi trước. Kinh tế tri thức - giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất xã hội, đang tạo ra những điều kiện và khả năng mới để Việt Nam rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX đã chỉ rõ: “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”1. Nước ta tuy còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, nhưng tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam không thua kém những “con rồng”, những 1 Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005, tr. 11 nước và vùng lãnh thổ mới công nghiệp hoá.

Con người Việt Nam có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ các tri thức mới, công nghệ mới. Thực tiễn của những năm đổi mới vừa qua cho thấy, trên một số lĩnh vực mới hình thành, một số công nghệ mới nhất đã được người Việt Nam sử dụng và theo kịp trình độ của thế giới. Nếu chỉ dựa vào tài nguyên, vốn, lao động và theo cách nghĩ, cách làm công nghiệp hoá trước đây thì bài toán đặt ra về rút ngắn khoảng cách phát triển sẽ không có lời giải. Tuy nhiên, vấn đề lớn đang đặt ra là trình độ của nền kinh tế nước ta hiện tại còn rất thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, còn rất nhiều vấn đề bức xúc phải giải quyết như xoá đói giảm nghèo, thất nghiệp và thiếu việc làm, phát triển nông thôn, vùng sâu vùng xa., thì có thể phát triển kinh tế tri thức không, phát triển như thế nào và bằng cách gì? Khó khăn, thách thức đối với nước ta còn rất gay gắt.

Thế giới đang phát triển ngày càng nhanh, một năm bằng nhiều năm trước đây, năm sau nhanh hơn năm trước, thập kỷ sau nhanh hơn thập kỷ trước. Chúng ta đã chậm chân trong nhiều năm qua, nay phải tăng tốc, bắt kịp, không thể để vận hội lớn trôi qua. Như vậy, trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, cần phải đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa, trong đó vấn đề cốt lõi là phải có chiến lược, chính sách, lộ trình phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức cả về lý luận và tổng kết thực tiễn, có rất nhiều tài liệu giới thiệu về mô hình, chiến lược phát triển kinh tế tri thức và kinh nghiệm của các nước.

Ở trong nước, khoảng 5 năm gần đây, cũng có một số công trình về chủ đề này đã được công bố.03 có nhiệm vụ nghiên cứu làm rõ bản chất của kinh tế tri thức, những đặc điểm cơ bản của nó, tác động của nó đến quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng xã hội, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đang đi vào kinh tế tri thức; phân tích thực trạng kinh tế nước ta dưới góc độ kinh tế tri thức, từ đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chính sách phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, nhằm đẩy nhanh, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 12 Phần thứ nhất KINH TẾ TRI THỨC –XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỜI ĐẠI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I- KINH TẾ TRI THỨC: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN, VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TRI THỨC I.1- Một số khái niệm cơ bản I.1- Tri thức và vai trò của tri thức đối với phát triển Tri thức là sự hiểu biết của con người đối với thế giới khách quan và khả năng vận dụng chúng vào thực tiễn. Tri thức cũng là sự tích luỹ thông tin và những kỹ năng có được qua việc sử dụng chúng. Dữ liệu là những tín hiệu rời rạc, còn thông tin là những dữ liệu có hệ thống, có ích cho người thu nhận, giúp họ biết về một sự kiện, một vật thể.

Khi thông tin được con người thu nhận, xử lý, giúp con người nhận thức, hiểu biết về thế giới khách quan, vận dụng vào trong hoạt động thực tiễn và nâng cao được kỹ năng, khi đó thông tin biến thành tri thức. Thông tin là một loại tài nguyên quan trọng của xã hội, là cơ sở cho tri thức. Có nhiều thông tin mà không có tri thức để xử lý những thông tin ấy thì thông tin trở thành vô dụng. Tri thức mà không được vận dụng vào thực tiễn thì chẳng đem lại lợi ích gì cho sự phát triển xã hội và cá nhân con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trí thức học sách chưa phải là trí thức hoàn toàn, muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận”2. Ngày nay, những tri thức cơ bản nhất cần thiết cho con người bao gồm: Biết cái gì (know-what) nói về sự nhận biết các sự kiện, các vật thể, các hiện tượng.

Ở đây, tri thức rất gần gũi với thông tin; khối lượng tri thức có thể đo bằng bit. Trong hầu hết lĩnh vực, các chuyên gia đều phải có rất nhiều "cái biết" này mới có thể làm tròn nhiệm vụ; Biết tại sao (know-why) thường để chỉ tri thức khoa học, sự hiểu biết về bản chất của thế giới tự nhiên và đời sống kinh tế - xã hội. Tri thức này là cơ sở cho những tiến bộ công nghệ, đổi mới sản phẩm trong phần lớn các ngành công nghiệp; tạo ra các tri thức này thường là từ các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học; Biết làm thế nào (know-how) là để chỉ kỹ năng hoặc năng lực làm một việc gì đó. Đây là loại tri thức đặc trưng cho năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hiện nay.

Người ta thường thiết lập mạng lưới công nghiệp để các doanh nghiệp có thể chia sẻ và tổ hợp các yếu tố của loại tri thức này; 2 Hồ Chí Minh: Sửa đổi lối làm việc, 1947. 13 Biết ai (know-who) là cái biết quan trọng nhất. “Biết ai” bao gồm thông tin về ai biết cái gì, ai biết làm thế nào, làm những gì. Đó cũng là tri thức về quan hệ xã hội, về tổ chức tập hợp lực lượng, về cách tiếp cận với các chuyên gia và sử dụng hiệu quả nhất tri thức của họ.

Đối với người quản lý và các tổ chức, tri thức này là điều kiện hàng đầu để thích nghi với sự đổi mới ngày càng nhanh. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Trí thức là gì? Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra.

Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”3.Nhật Bản và một số nước khác phân loại các lĩnh vực khoa học và công nghệ ra làm hai nhóm chính: một là Khoa học tự nhiên (gồm các ngành khoa học cơ bản như Toán, Lý, Hóa. ) và các ngành công nghệ, như nông nghiệp, công nghiệp, y dược,.); hai là Khoa học xã hội (gồm các ngành như: lịch sử, văn học, nhân chủng học, khoa học sư phạm, nhân văn học,.

Ngày nay, do vai trò nổi bật của công nghệ, người ta thường tách riêng khoa học công nghệ khỏi khoa học tự nhiên, và khoa học được phân ra thành ba nhóm lớn : khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Cần lưu ý rằng, tri thức cần cho một xã hội tri thức có phạm vi và ý nghĩa rộng hơn rất nhiều so với tri thức công nghệ; nó bao gồm cả tri thức về kinh tế, về chính trị, về văn hoá, về xã hội, về quản lý. Tri thức của một tổ chức rộng lớn hơn nhiều so với các thông tin viết ra trong các tập sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Báo cáo "Xu Hướng Phát Triển Kinh Tế Tri Thức ở Việt Nam: Báo Cáo Nghiên Cứu Tổng Hợp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mà kinh tế tri thức đang trở thành động lực chính cho sự phát triển. Tài liệu này nêu bật các yếu tố quan trọng như vai trò của công nghệ thông tin, giáo dục và đổi mới sáng tạo trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích từ việc áp dụng các chiến lược phát triển kinh tế tri thức, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công việc và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay, nơi phân tích sâu hơn về sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành. Ngoài ra, tài liệu Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển kinh tế tri thức. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ định hướng quy hoạch phát triển tổng công ty xăng dầu Việt Nam đến năm 2010, một tài liệu liên quan đến quy hoạch và phát triển trong bối cảnh kinh tế tri thức. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của kinh tế tri thức tại Việt Nam.