Chương 1: Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức. - Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay. - Chương 3: Những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. z 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 1.
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế “Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu nhất định. Hệ thống kinh tế hợp thành cơ cấu kinh tế, thường được nghiên cứu theo ba phương diện, tạo thành ba loại hình cơ cấu khác nhau: - Cơ cấu ngành kinh tế. - Cơ cấu thành phần kinh tế.
- Cơ cấu vùng lãnh thổ. Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế giữ vai trò quan trọng hơn cả, nó được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất. Trong cơ cấu ngành kinh tế có ba ngành hay còn gọi là ba khu vực chính. Đó là: khu vực nông nghiệp, khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ.
Cơ cấu ngành kinh tế có thể hiểu là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Đó là thước đo phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động của mỗi quốc gia. Cơ cấu thành phần kinh tế được phân chia dựa trên chế độ sở hữu. Cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy lực lượng sản suất và phân công lao động xã hội phát triển.
Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ được hình thành dựa trên việc bố trí kinh tế theo vùng địa lý. Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, xã hội riêng biệt của từng vùng để phát triển các ngành kinh tế phù hợp. z 5 Các loại hình cơ cấu kinh tế nói trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được hình thành và phát triển dựa trên phạm vi vùng lãnh thổ.
Ngược lại việc xác định cơ cấu vùng, lãnh thổ hợp lý sẽ thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế không bao giờ cố định, bất biến mà liên tục thay đổi để phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng quốc gia, ở mỗi một giai đoạn nhất định. Sự thay đổi đó còn gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế muốn phát triển thì phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp.
Sự chuyển dịch đó diễn ra nhanh hay chậm và theo chiều hướng nào tùy thuộc vào các nhân tố chủ yếu là: Quy mô của nền kinh tế, mức độ mở cửa để hội nhập của nền kinh tế với bên ngoài, lượng dân số, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn nhân lực, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa … của từng nước. Ngày nay, với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu hướng toàn cầu hóa, thế giới bước sang kỷ nguyên của kinh tế tri thức. Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi theo xu hướng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật mới tăng lên nhanh chóng và dần chiếm ưu thế, tỷ trọng các ngành truyền thống giảm dần. Các quốc gia đi đầu trong những lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sẽ giành vị trí thống trị, áp đảo trong nền kinh tế khu vực và thế giới.
Điều đó làm cho các quốc gia khác cũng phải có các chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một yêu cầu khách quan, xuất phát từ sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội, cách mạng hóa sản xuất và chịu sự tác động của cách mạng khoa học, công nghệ. z 6 Cơ cấu ngành kinh tế luôn phải chuyển dịch để phù hợp với sự biến đổi của môi trường khoa học kỹ thuật bên ngoài. Một số ngành cũ mất đi, một số ngành mới ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần trong thời đại mới.
Không bao giờ có cùng tốc độ tăng trưởng, phát triển cho tất cả các ngành. Ngành nào thực sự cần thiết cho quốc tế dân sinh thì sẽ phát triển ngày càng nhanh, và ngược lại có những ngành quy mô và tốc độ phát triển ngày càng thu hẹp lại. Sự phát triển không đồng đều dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế quốc dân. Như vậy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự vận động, phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian, dưới tác động của những yếu tố kinh tế, xã hội nhất định của đất nước và quốc tế.
Trên tầm kinh tế vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là kết quả của sự vận động, phát triển của ba ngành chính: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Ở Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được xem là một yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp để phấn đấu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Chúng ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn để có quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đúng hướng.
Nếu không xây dựng được một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với xu hướng chung của thế giới, thì chắc chắn quá trình phát triển kinh tế đất nước sẽ gặp phải rất nhiều trở ngại. Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một trong nhưng quốc sách hàng đầu đối với mọi quốc gia trên thế giới. Việc xây dựng một chiến lược chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với điều kiện riêng của từng nước z 7 là rất cần thiết. Có một chiến lược chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phù hợp thì nền kinh tế mới có điều kiện phát triển nhanh và bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trước tiên để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống người dân như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng. Việc xây dựng các ngành trọng điểm, mũi nhọn cũng rất cần thiết để có thể tập trung sức lực và vật lực, khai thác tối đa các ngành có lợi thế cạnh tranh và giá trị cao trên thị trường, phục vụ cho xuất khẩu nhằm thu được nhiều ngoại tệ mạnh phục vụ cho việc cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong nước. Xu thế của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật cao và ngành dịch vu, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, ưu tiên những ngành tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Việt Nam đã đạt được nhiều thành công vì có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đúng hướng. Đảng và Nhà nước ta chủ trương giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 24,3% năm 2000 xuống còn 20,9% năm 2005. Công nghiệp và xây dựng tăng từ 36,6% năm 2000 lên 41% năm 2005.
Thương mại và dịch vụ giảm nhẹ từ 39,1% năm 2000 xuống còn 38,1% năm 2005 [35, 36]. Điều đó đã làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với mức bình quân 5 năm (2000-2005) đạt 7,5%, đứng thứ hai trong khu vực Đông Á. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân. Việt Nam từ một nước thiếu ăn, thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.
Nhưng bên cạnh những thành công thì quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam vẫn còn có nhiều khó khăn, thách thức. Như là chưa đầu tư đúng mức cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, vẫn còn z 8 nặng về công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Quá trình hiện đại hóa vẫn chưa được quan tâm đúng mức, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý. Ngành công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tập trung vẫn là các ngành sử dụng nhiều lao động, chất lượng chưa cao và vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế.
Chính vì vậy làm cho sức cạnh tranh của hàng công nghiệp thấp, tình trạng “thua trên sân nhà” diễn ra phổ biến. Chất lượng hàng nội thấp tất yếu dẫn đến tâm lý “thích hàng ngoại”. Ngành nông nghiệp vẫn còn sự chưa đồng bộ về mở rộng diên tích và đầu ra của sản phẩm. Dẫn đến tình trạng sản phẩm nông nghiệp không có nơi tiêu thụ, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người nông dân, tầng lớp chiếm 70% dân số cả nước, làm cho người nông dân không những mất mùa mà được mùa cũng khổ.
Các ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám cao phát triển chậm, đóng góp vào GDP còn nhỏ. Tất cả những điều đó đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam cần diễn ra nhanh hơn, làm cho nền kinh tế đất nước giữ vững nhịp độ tăng trưởng nhanh và chất lượng tăng trường ngày càng cao. KINH TẾ TRI THỨC 1. Khái niệm về nền kinh tế tri thức Kinh tế tri thức trong những năm gần đây được nói đến rất nhiều, như một biểu trưng xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế hiện tại và tương lai.
Thuật ngữ kinh tế tri thức không còn dừng lại trên sách vở, tài liệu tham khảo dưới dạng học thuật mà tất cả các quốc gia kể cả quốc gia đang phát triển cũng đã, đang hoạch định các chiến lược, mục tiêu cụ thể để đi đến nền kinh tế tri thức.